Trang chủ

 Bài 10

                                            Đọc lại thơ 

 Bích Hồ HOÀNG PHỦ DỰC
(1904 – 1981)

                                                                                       Ảnh Ba

                                          HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN

Ba tôi thuộc thế hệ những người được tiếp thu những cái hay của ba nền văn hóa Việt – Hán và Pháp. Tiếng Pháp đủ để đi làm thư ký ngành hỏa xa thời Pháp thuộc. Chữ Hán đủ để dịch thơ Đường . Tiếng Việt thì được phát huy để sáng tác văn thơ tiếng Việt. Ba tôi làm thơ lấy hiệu là Bích Hồ. Chữ BÍCH này khá quen thuộc trong tên, hiệu của những người họ Hoàng. Ví dụ: Song Bích – Hoàng Hữu Xứng (Đ13); Bích Lâm – Hoàng Hữu Gia (Đ14); Bích Đàm – Hoàng Hữu Đản (Đ15) – Bích Hoàng, Bích Phong – (Hai trong nhiều bút hiệu của Hoàng Hữu Chỉ (Đ16); Hoàng Bích Hoài Anh (Đ16)… Những chữ Bích nói trên, đều có ngữ nguyên từ tên làng Bích Khê.

Ba tôi có một tập thơ chép tay dày hàng trăm trang khổ lớn gồm đủ loại:thơ tình, thơ tự sự, thơ thế sự, thời sự, hoặc thơ thù tạc. Ngoài ra còn một số câu đối và vài bài nghị luận văn chương. Những bài chép tay đầu tiên trong tập thơ có nét chữ rất đẹp – là thủ bút của một người cháu là ông Hoàng Hữu Hốt (Đ15), cựu học sinh Quốc Học Huế, liệt sĩ thời chống Pháp, con thứ của ngài Hoàng Hữu Tiêu. Về sau có thêm nhiều bài khác, chữ càng đẹp hơn, do họa sĩ Hoàng Hữu Chỉ chép giùm. Hồi nhỏ tôi chỉ đọc vì tò mò, chưa hiểu được chỗ hay chỗ dở. Nay có thể hiểu thì tiếc thay, tập thơ ấy đã thất lạc rồi. Tôi chỉ còn nhớ được vài bài và có bài chỉ nhớ được vài câu. Riêng về phần dịch thơ Đường thì tôi còn giữ được khá nhiều. Ấy là nhờ ông anh rể tôi là Trần Nguyên Các. Ông Các thích thơ Đường và thích những bài dịch thơ Đường của ba tôi nên ông sưu tập, đánh máy và cất giữ được một số.

Nay tôi xin được giới thiệu đôi vần trong số những gì còn sót lại và còn đọng lại mãi trong tôi.

  • Thơ tình cảm

Hình như suốt đời ba tôi chỉ có một mối tình và đó là mối tình lớn đối với mẹ tôi. Không có vợ bé, không hề có những chuyện tình ma chuột, mèo mả gà đồng, quan hệ ngoài luồng… Bài thơ tình đầu tiên của ba tôi đề tặng Diệu Ngọc (mẹ tôi) lúc hai người mới yêu nhau đã đăng trên báo Khuynh Diệp của ông Viễn Đệ, (một doanh nhân nổi tiếng ở Huế, chủ cơ sở sản xuất dầu khuynh diệp). Bài thơ khà dài nhưng tôi chỉ nhớ được vài câu như sau:

“Sầu tương tư đêm cũng như ngày
Hai má hồng đào em phai phấn
Hai mái tóc dày em hóa sưa
Sầu tương tư ngày nắng đêm mưa
Năm canh sáu khắc lòng ngẩn ngơ …”

Có một thời gian, ba tôi đi làm ăn xa nhà. Chắc ba tôi nhớ vợ con lắm nhưng ông không tự thú nhận điều đó mà mượn lời mẹ tôi để giải tỏa nỗi lòng:

“Chồng hỡi chồng, con hỡi con
Chàng đi thoắt đã mấy năm ròng
Trông vời nước biếc chòm mây bạc
Chạnh nhớ ngày xanh giọt lệ hồng”.

Mẹ tôi là người nội trợ có đôi bàn tay vàng. Bà từng được nữ sử Đạm Phương (bà tên là Tôn nữ Đồng Canh, cháu nội vua Minh Mạng và là mẹ của nhà văn Hải Triều) ủy nhiệm làm hiệu trưởng trường Nữ Công của Nữ Công Học Hội Huế do bà làm Hội trưởng. Học sinh của trường là những thiếu nữ thuộc các gia đình khá giả có xu hướng tân thời, được bà Đạm Phương đào tạo nhiều mặt để hội nhập vào xã hội mới. Mẹ tôi dạy cho họ các môn nữ công gia chánh như đan thêu, mứt bánh, nấu món ăn Tây, món Huế… Thấy mẹ tôi có khó khăn trong việc soạn giáo án, ba tôi bèn soạn giùm bằng văn vần. Ví dụ bài dạy làm tương:

“Làm tương phải học cho rành
Lấy loong đong nếp, đậu nành cho ngang.
Đậu nành bắt cát mà rang
Trở lưng vá lại mà nghiền bể hai…”

     Lúc nhỏ ba tôi có tên gọi là Vụng. Ông khá vụng về trong lao động chân tay. Vụng như thế mà chịu ngồi làm ba thứ thơ về tương, chao, bánh mì để phục vụ cho nghề nghiệp của mẹ tôi thì cái tình dành cho mẹ tôi hẳn nhiều lắm. Vậy tôi tạm xếp những bài thơ nói trên vào mục thơ tình luôn, được không nhỉ?

Tình bạn cũng là một nguồn cảm hứng lớn trong thơ của ba tôi. Ông nói về tình bạn ấy bằng những lời tha thiết:

“Bác Mộng Xuân, bác Mộng Xuân
Bác tôi tôi bác phong trần gặp nhau
Gặp nhau chưa được bao lâu
Tôi về bác ở thật đau đớn lòng”…

     Thuở ấy ở Huế có một người lãng tử tên là Vân Đàm. Chiều chiều người ta thường thấy ông ta mang một con khỉ trên vai ra ngồi trên bãi cỏ bên bờ sông Hương thổi vài bài sáo rất buồn. Rồi một hôm không thấy ông ta ra bờ sông thổi sáo nữa. Không biết đi đâu. Ba tôi bảo là ông ta đã theo Việt Minh đi kháng chiến. Ba tôi nhớ ông ấy đến quay quắt:

“Chiều chiều thơ thẩn dựa lan can
Ta nhớ Vân Đàm héo ruột gan”…

Trong khoảng những năm từ 1966 đến 1975, hai anh em tôi (Tường và Phan) thoát ly kháng chiến chống Mỹ để lại cha mẹ già neo đơn cô quạnh trong tuổi bảy mươi. Ba tôi viết mấy câu thơ nghe muốn ứa nước mắt:

“Bắt mặt trông ra biết hướng nào
Bốn phương đất rộng với trời cao
Năm canh tựa cửa mình đành vậy
Muôn dặm xa nhà trẻ biết sao!…”

  • Thơ tự sự, thời sự

Hồi trai trẻ, không biết ba tôi nghe lời ai xúi dại, ra Hòn Gai tính tìm việc làm ở mỏ than. Khi đến nơi, ông hiểu ngay rằng mình không thể kham nổi kiếp làm phu mỏ:

“Hỏi mình sao lại đến Hòn Gay
Ồ! Nợ tang bồng phải trả vay…”

Vào năm 1945, sau khi Nhật đảo chánh, ba tôi dẫn con gái đầu đi xe lửa ra Đồng Hới thăm bác tôi. Chuyến tàu ấy bị máy bay của quân Đồng Minh ném bom:

“Tháng giêng còn nhớ bữa mười ba
Minh Lệ tàu bay lại phá ga
Máy chuyển vang trời bom dội xuống
Thây nằm đầy đất, máu tuôn ra
Tài cao tướng họ đà hăng hái
Chết uổng dân mình thật xót xa
May được cha con ta sống sót

Nhờ ơn trời Phật,phúc ông bà.

     Năm 1975, ba tôi có làm một bài thơ rất thời sự:

“Mừng nay cách mạng đã thành công
Ước vọng lâu nay được thỏa lòng
Giải phóng cờ reo cùng đất nước
Hoan hô tiếng dội khắp non sông
Xích xiềng cởi mở dân Nam Việt
Ruột thịt đoàn viên giống Lạc Hồng…”

     Ba tôi mất năm 1981. Trước đó vài năm, ba tôi có làm một bài thơ rất ngắn:

“Năm nay tuổi lão bảy mươi tư
Ai ghét ai thương lão cũng ừ
Mái tóc Giáp Thìn đà bạc trắng
Mà lòng quân tử vẫn khư khư.”

Chỉ có bốn câu nhưng chứa đầy tâm sự. Ấy là tâm sự gì, ba tôi không hề nói ra và tôi cũng không ngờ rằng đây bài thơ cuối cùng của ba tôi trước khi từ giả cuộc đời – một cuộc đời buồn nhiều hơn vui.

  • Dịch thơ Đường

Ba tôi dịch khá nhiều thơ Đường nhưng nay chúng tôi chỉ còn giữ được khoảng ba mươi bài. Xin giới thiệu vài bài để những người yêu thích thơ Đường đọc và phẩm bình.

THANH MINH
Thanh minh thời tiết vũ phân phân
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn
Tá vấn tửu gia hà xứ hữu
Mục đồng diêu chỉ Hạnh Hoa thôn
Đỗ Mục

Dịch:
Thanh minh gặp tiết mưa phùn
Qua đường khiến khách ngây hồn lắm nao
Hỏi thăm quán rượu nơi nào
Mục đồng vói chỉ đi vào Hạnh thôn.

VỌNG PHU THẠCH
Vọng phu xứ
Giang du du
Hóa vi thạch
Bất hồi đầu
Sơn đầu nhật nhật phong hòa vũ
Hành nhân qui lai thạch ưng ngữ.
Vương Kiên

Dịch:
Nơi đây là chỗ trông chồng
Nước sâu sông lạnh một giòng chảy mau
Thân này hóa đá đã lâu
Trơ trơ quyết chẳng quay đầu ngó ai
Đỉnh non mưa gió rứa hoài
Người về đá mới toan bài nói phô.

LƯƠNG CHÂU TỪ
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
Vương Hàn

Dịch:
Bồ đào rót chén dạ quang
Uống thời lưng ngựa giục vang tiếng tỳ
Sa trường say oắt cười chi
Xưa nay chiến sĩ mấy khi trở về.

  • Câu đối

Câu đối đề trước lăng mộ ông nội tôi là ngài Tùng Am Hoàng Hữu Quỵ (Đ14):

Chạnh nhớ cha, ngoảnh lại non Mai cao chất ngất
Ngùi thương mẹ, trông vời sông Hãn rộng mênh mông.

     Ba tôi thuộc lớp cựu trào, chuyên làm thơ cũ. Vào những năm 1930 thơ cũ đã đấu với thơ mới nhiều trận và thua dài dài. Nhưng các nhà thơ cũ không nghĩ rằng họ thất bại mà cho rằng thơ mới cũng như loại thời trang trẻ không thích hợp với người già và ngược lại. Các nhà thơ cũ tự động tập họp nhau lại trong những làng thơ gọi là thi xã. Ở Quảng Trị có Mai Hãn thi xã, ở Huế có Hương Bình thi xã. Đó là những hội văn nghệ phi chính phủ, hoạt động tự phát, không có kinh phí, không có trụ sở, không có chút quyền lợi danh vọng gì. Nhưng thi xã của các cụ là những sân chơi văn hóa rất lành mạnh để lớp người cao tuổi di dưỡng tâm hồn và khẳng định rằng mình vẫn tồn tại – Trong thế giới sáng tác ấy, ba tôi thực sự là một nhà thơ.

                                                                                                                                                              HPNP