Trang chủ

Bài  8

Ông Đại sứ 
HOÀNG HỮU KÌNH

và cuộc vượt ngục của tù áo trắng Côn Đảo

 

Hh Kinh

                                                                      Đại sứ Hoàng Hữu Kình (Đ 14)

Sau khi tái chiếm Nam bộ, chuyến tù mà thực dân Pháp đày ra Côn Đảo vào tháng 5 – 1946 là chuyến đầu tiên, độ 700 người, đa số là thanh niên yêu nước. Ra đây chúng chọn một số người biết tiếng Pháp làm thư ký, “cặp rằng”, các Sở lao dịch, làm bồi bếp cho những công chức trong bộ máy quản tù, những anh em này được mặc quần áo trắng vải thô, thay vì quần áo xanh như những người tù khổ sai tại đảo. Chuyến vượt ngục mà tôi kể sau đây là chuyến vượt ngục hy hữu của anh em tù áo trắng Côn Đảo thời Pháp do anh Hoàng Hữu Kình tồ chức.

Lợi dụng chính sách “tốt bụng” của giám đốc mới, Noel năm 1946 anh Hoàng Hữu Kình (1) lúc ấy là thư ký Sở Củi đã tổ chức đêm văn nghệ cách mạng, các bài ca Thanh niên hành khúc, Lên đàng, Diệt phát xít được anh em hát say sưa, vở vũ kịch Hằng Nga ngủ trong rừng, kịch thơ Nguyễn Trãi biệt Phi Khanh của Hoàng Cầm được các diễn viên tù thể hiện với tất cả tình cảm sống động. Cuối năm 1946, anh Hoàng Hữu Kình được điều về văn phòng giám thị trưởng, với chức danh thư ký trưởng, anh lại xin phép tổ chức một đêm văn nghệ mừng Xuân Đinh Hợi (1947). Đêm biểu diễn nà được tổ chức tại trại lính đảo, các bài ca cách mạng lại được anh em hát lại, vở kịch “Hội sợ vợ” do anh Lương Văn Thắng sáng tác tại đảo, kịch “Trưởng giả học làm sang”, do các anh Kình, anh Trần Duy Giang và tôi đóng vai chính, nội dung kịch nói lên tính ươn hèn, ngu dốt của lớp người gọi là có Tây học… khán giả cả hai đêm văn nghệ do anh Kình tổ chức, ngoài anh em tù còn có vợ, còn thầy chú, lính lê dương giữ đảo và một số gạc-dang người Âu.

Qua các buổi văn nghệ thành công, phong trào bình dân học vụ cũng được tổ chức hầu khắp các Sở. Chúng tôi lại bàn việc vượt ngục. Tôi còn nhớ vào khoảng 6 – 1947, tôi, anh Kình, anh Lê Huy Báu và anh Nghĩa chuồng bò gặp nhau tại Nhà thờ Côn Đảo (2), quyết định làm thuyền vượt ngục. Anh Kình giao cho anh Nghĩa chịu trách nhiệm tổ chức làm thuyền, tôi và anh Phạm Gia (3) lo chạy lương thực và vải, sơn còn anh và anh Lê Huy Báu chịu trách nhiệm theo dõi tình hình chung và điều khiển các mặt.

Sau cuộc hội ý này, anh Nghĩa về Chuồng bò chọn ba người làm thuyền, người thứ nhất là anh Mười Bù, tù hình sự, có biệt danh ở đảo là “Vua vượt ngục”, anh đã nhiều lần bị đày ra đây và cũng nhiều lần vượt ngục, lần vượt ngục cuối cùng trước đây của anh xảy ra sau cách mạng tháng 8 – 1945, bè anh trôi dạt ra biển khơi hàng tháng, hai bạn đồng hành với anh bị chết đói, chết khát, trong cơn hấp hối anh được một chiến hạm Anh vớt đem về Singapor, sau đó trao trả cho thực dân Pháp ở Sài Gòn, anh lại bị đày ra Côn Đảo cùng chuyến với chúng tôi. Với cương vị “cọp rằng” Sở Củi, anh Nghĩa giao trách nhiệm canh gác để anh Bảy Nữa làm thuyền, anh Năm Rồng đốn củi thay cho anh Bảy Nữa. Anh Bảy Nữa là tù thường phạm, có tài làm thuyền cho hàng chục người đi mà không cần lấy một cây đinh, một cây búa. Để giải phóng cho anh Bảy Nữa làm thuyền, anh Năm Rồng phải đốn củi thay cho anh hàng ngày. Sở Củi Côn Đảo là nơi lao động khổ sai nặng nề nhất, mỗi ngày tù phải đi hàng 4.000m hoặc 5000m lên núi đốn củi vác về sân củi nộp 0,30m3 như vậy, anh Năm Rồng phải đốn mỗi ngày 1m3 củi để nộp. Đây là việc rất khó khăn, nặng nề mà anh Nghĩa giao cho anh.

Muốn làm một chiếc thuyền mây cho độ 10 người đi, thuyền phải có chiều dài độ 6m, rộng 1,4m sâu từ lòng thuyền lên miệng bè 0,8m. Khung thuyền bằng mây và song, chung quanh bọc vải phết sơn nước, như vậy chúng tôi phải có 50 cây mây và song, mỗi cây dài 6m, độ 50 bộ quần hoặc áo cụt của tù và 20 lon sơn loại 0,5l. Theo sự phân công, hàng ngày anh Bảy Nữa phải luồn vào chân núi Thánh Gia rậm rạp, gai góc để chặt mây, song kiên trì uốn cong mỗi ngày một ít. Tôi và anh Phạm Gia nhận nhiệm vụ sưu tầm quần áo tù, bằng xin, đổi mới. Buổi trưa chúng tôi ra biển cạy “vú nàng” bám trên đá, bán hoặc đổi quần áo cho vợ con thầy chú. Chúng tôi lại kết nạp thêm anh Võ Xuân Phong, lúc ấy làm thư ký cho hợp tác xã đảo, để anh tiếp tay tìm sơn nước.

Ba tháng tiến hàng làm thuyền, chuẩn bị lương thực, thuốc, vào cuối tháng 2 – 1947 công việc gần xong. Anh Hoàng Hữu Kình cho biết có thể đi vào cuối tháng 12 hoặc đầu tháng 1 – 1948. Chúng tôi khẩn trương hoàn tất những việc còn lại, chúng tôi hội ý thấy thuyền còn có thể chở thêm vài người nữa, nhưng chọn ai? Ai có điều kiện? Ai trung thành với cách mạng? Nhiều anh em tốt, có trình độ nhưng không có điều kiện ra khỏi khám lúc thuyền ra khơi, cuối cùng chúng tôi chọn anh Trần Thành, một thanh niên người Hoa để không may thuyền trôi dạt vào Malayxia hoặc Singapor có người đứng ra giao dịch. Vào tháng 12 bỗng có chuyến tàu đày tù từ đất liền ra đảo, anh Kình, anh Báu rất bận rộn trong việc sắp xếp tù về các sở, tàu lại phải neo ở đảo mất 7 ngày, việc xuống biển chưa có cơ hội bàn tiếp.

Sang tháng 1 – 1948, thuyền đã làm xong, các việc khác đã hoàn tất, chúng tôi bàn có thể vượt biển vào đêm 12-1, nhưng ngày 2-1 có chuyến vượt ngục của các anh ở Sở Rẫy An Hải bị lộ, một số anh bị bắt, số khác chạy vào rừng núi, giặc Pháp truy lùng ráo riết. Rừng núi Côn Đảo trong những ngày này luôn có tiếng súng.

Chỗ giấu thuyền của chúng tôi có nguy cơ bị phát hiện. Tôi rất lo, nhưng giữa trưa ngày 14-1 anh Phạm Gia đến thông báo với tôi rằng anh Kình quyết định vượt biển ngay 19 tối nay, điểm tập kết là bãi tàu, sát cạnh Nhà thờ. Anh Gia giải thích: nhân địch tập trung lực lượng truy lùng tù phía Tây đảo, ta xuống thuyền phía Đông, trước mặt thị trấn là nơi địch không bao giờ nghĩ tới.

Đúng giờ, tôi và anh Trần Thành khẩn trương tới nơi tập kết, anh em đã đến đầy đủ, duy thiếu anh Nghĩa, anh Nghĩa xung phong ở lại để tiếp tay cho những anh vượt chuyến sau. Chúng tôi nhanh chóng khiên vác thuyền, buồm, chèo xuống biển. Theo lệnh anh Mười Bù, từ đồi sim xuống mé biển chúng tôi phải đi giật lùi, để dấu chân trên cát chỉ thấy từ dưới biển đi lên. Tôi còn nhớ ngày chúng tôi vượt đảo nhằm ngày mồng bốn tháng Chạp âm lịch, trăng lưỡi liềm lấp ló bên kia núi Chúa, nước thủy triều lên hết độ cao dừng lại, gió mạnh, sóng cao, anh Mười Bù to khỏe giữ thuyền cho chúng tôi lên, anh sau cùng, cầm lái, chúng tôi mỗi người cầm một cây dầm bơi, thuyền chạy dọc theo bờ, gió mùa Tây Nam hút qua núi Tà Ni vùa sóng ào ào vào bờ, thuyền rẽ dọc sóng lắc lư vòng qua mũi Đá Trắng, mũi Cá Mập, sóng dồn dập như muốn nhận chìm chúng tôi xuống biển. Tôi cảm thấy như mình đang ngồi trên lưng cọp, khi chồm lên phía trước, khi bật ngược ra sau, đôi tay tôi đã phồng nhiều chỗ. Thuyền chúng tôi qua khỏi hòn Trác, hướng về hòn Vung, anh Năm Rồng trương buồm lên, chiếc buồm làm bằng bao tải, ướt sũng, nặng nề nhưng có sức đẩy, thuyền lướt nhanh về hướng Tây.

Mọi người đều dần dần ngầy ngật, ói mửa nằm vật xuống thuyền. Tôi tựa lưng vào anh Kình nhìn bầu trời đầy sao, ngậm ngùi nhớ bạn bè, đồng chí, từng sống chết có nhau trong những ngày Đảng còn hoạt động bí mật, nhớ anh Hoàng Dư Khương người dẫn dắt tôi vào Đảng, nhớ anh Tô Hà miệng méo, anh Văn Hà mang kính không tròng… nhớ những đồng chí cùng mình chung chịu đòn thù thừa sống thiếu chết trong vụ Affaire de complot, nhớ cụ Tú Oanh, nhớ anh Nguyễn Ngọc Lân, nhớ các đồng chí đảo Cô Tô!… Tôi thiếp dần trong giấc ngủ, lúc tỉnh lúc mê. Khi tôi thức dậy thì mặt trời đã lên cao, ánh sáng phả vào tôi hơi ấm dịu dàng… Bỗng anh Báu la lớn: thuyền thủng… thuyền thủng…!… Tôi giật mình nhìn theo tay chỉ của anh, một lỗ thủng bằng ngón tay bên mạn trái thuyền, nước vọt vào thành tia khá mạnh, mọi người lấy áo nhúng nước vắt ra ngoài, tôi chụp vội lon sữa trống tát vội vàng xuống biển, anh Mười Bù nhảy xuống lần theo be thuyền lấy khăn vo tròn nhét vào chỗ thủng… bỗng từ xa nhiều đàn cá nhảy vọt lên khỏi mặt nước, anh Bảy Nữa la lớn: cá mập… cá mập… mọi người nhanh tay kéo anh Mười lên… Thuyền chúng tôi tiếp tục nhếch mũi về hướng Tây.

Vào đêm thứ hai, mọi người trên thuyền đang trò chuyện về một ngày mai tươi sáng, bỗng vùng trời phía Đông mây mù che kín, những chòm mây đen sà xuống biển, gió mạnh rít qua, thuyền rùng mình chao đảo. Anh Mười bình tĩnh hạ buồm, trấn an anh em, cái khó là kìm thuyền không cho lật, cũng không để gió khiển thuyền đi. Kinh nghiệm cho anh biết rằng có những chuyến vượt ngục gần đến bờ bỗng phong ba đẩy thuyền trả về đảo. Sau độ ba tiếng đồng hồ vật lộn với sóng gió, biển trở lại bình thường, luồng mây đen dồn về hướng Tây… Chòm sao Bắc Đẩu xuất hiện.

Tôi vừa lạnh, vừa mệt, ngủ thiếp lúc nào, bỗng anh Võ Xuân Phong hét lớn: chân trời phía Tây có những chấm đen… tàu địch… Tôi choàng tỉnh dậy, hừng đông đã ló dạng. Những chấm đen đã nối liền. Anh Mười nói: đã đến vùng nước đục. Tới bờ rồi anh em ơi! Chúng tôi vừa mừng vừa lo. Đây là đâu? Vùng ta hay vùng địch?…

Thuyền chúng tôi tấp vào bờ biển Tân Ân, huyện Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu vào sáng ngày 16-1-1948, chiều hôm đó dân quân Tân Ân đưa chúng tôi về công an huyện Cà Mau, sau đó hai ngày đồng chí La Văn Nghĩa, tức Tào Ty lúc đó là Tỉnh đội trưởng Bạc Liêu, đón chúng tôi về tỉnh đội, bảy ngày sau đồng chí Nguyễn Thanh Sơn đón chúng tôi về Ban quân sự Nam bộ. Theo ý kiến anh Hoàng Hữu Kình, chúng tôi đặt tên cho nhóm vượt ngục của chúng tôi là “Nhóm 14-1-48” để liên lạc với nhau và cũng để kỷ niệm ngày vượt ngục của chúng tôi.

TRÚC QUỲNH
(Trích Côn Đảo – Ký sự và Tư liệu Nxb Trẻ – 1998)

(1) Anh Hoàng Hữu Kình, tử tù giảm án, người làng Bích Khê, tỉnh Quảng Trị, trước cách mạng tháng 8 – 1945 anh là công chức ngành hỏa xa. Vượt ngục anh về công tác tại chiến trường CPC, anh làm Đại sứ ở Ấn Độ từ năm 1976 – 1981. Anh đã qua đời tại TP. Hồ Chí Minh vì bệnh tim.
(2) Hàng tháng chúng tôi muốn gặp nhau phải tự khai mình có đạo, để đến Nhà thờ.
(3) Anh Phạm Gia là em ruột giáo sư Phạm Thiều, sau vượt ngục anh tình nguyện lên chiến đấu tại chiến trường CPC, hòa bình lập lại anh công tác tại trường Đảng Nguyễn Ái Quốc 7, anh qua đời vì bệnh ung thư năm 1990.