Trang chủ

Bài 11

SAO CỦA ĐẤT
hay là đôi nét 

về cuộc đời 9 liệt sĩ cách mạng họ Hoàng

  1. Hoàng Hữu Hốt                      6. Hoàng Hữu Điền (Ngọc Điền)
  2. Hoàng Hữu Hy                       7. Hoàng Hữu Quê
  3. Hoàng Hữu Hùng                   8. Hoàng Hữu Đề
  4. Hoàng Hữu Chấp                   9. Hoàng Hữu Chương
  5. Hoàng Thị Nưa

Trong suốt bề dày của lịch sử đấu tranh giành Độc lập dân tộc, họ Hoàng Bích Khê hãnh diện đã có không ít con cháu mình đóng góp công lao máu xương cho đại cuộc.

Chỉ riêng với một Chi nhất A đã có 3 người thuộc đời 15 và 6 người thuộc đời 16 được nhà nước cách mạng chính thức công nhận là liệt sĩ.

9 người con thuộc 2 thế hệ của một dòng họ nổi danh khoa bảnm kể từ đời Thượng Thỉ Tổ Hoàng Công Hội dựng nghiệp đến nay.

“Tâm” và “Huyết” của những liệt sĩ này của dòng họ đã làm cho 2 chữ “Hoàng Hữu” sáng hơn, cao lớn hơn. Họ chính là những “vì sao của đất”, “nguồn máu của hoa”. Họ dù chết đi, có kẻ không có một nấm mồ, một bia đá, nhưng tên tuổi họ, công lao họ sẽ luôn gắn liền với công sức tổ tiên, vinh quang của dòng họ. Ánh sáng của những vì sao rực lên từ đất, những dòng máu đã ngấm vào đất để làm tươi lên mãi màu cờ Tổ quốc bông hoa “Hoàng Hữu” và ruộng đồng quê hương.

  1. Liệt sĩ HOÀNG HỮU HỐT: ông sinh năm 1925.

1940 tốt nghiệp tiểu học Pháp Việt. 1945 hoàn tất chương trình trung học đệ nhất cấp, tình nguyện vào giải phóng quân, chiến đấu tại mặt trận thành phố Huế và có mặt trong trận đánh nổi tiếng ở nhà hàng Morin Frères: “trận Ớt mọi”. Gọi là “trận Ớt mọi”, vì theo lời kể lại của dân gian thời ấy, trong trận đánh này, để gây khó khăn cho lũ giặc Pháp bị quân ta bao vây co cụm lại trên tầng lầu nhà hàng lớn nhất Huế này, quân dân thành phố Huế đã dùng “ớt mọi” – một loại ớt bột cực cay – trộn vào rơm để đốt xông khói lên. Rất không may cho quân ta vì sau đó ngọn gió trở chiều phá hỏng kế hoạch và quân ta đã không chống nổi trước sức phản công của giặc, phải rút lui. Ông Hốt đã mất tích trong cuộc chiến đấu không cân sức này. Cho đến nay, tuy gia đình đã nhận được bằng TQGC của nhà nước truy tặng nhưng nắm xương tàn của liệt sĩ thì vẫn còn dấu kỹ đâu đó trong lòng đất cố đô.

2. Liệt sĩ HOÀNG HỮU HY: sinh năm 1919

Trước CM tháng 8 là thành viên cốt cán của phong trào VM Sài Gòn. Ngày Pháp trở lại Sài Gòn ông đưa gia đình về thành phố Biển Nha Trang lánh cư và cũng để tránh tai mắt mật thám Pháp. Tại Nha Trang, ông là đội trưởng đội CA vũ trang của thành phố, hoạt động rất tích cực, lập nhiều thành tích cho địa phương.

Tháng 4 – 1947, bị giặc Pháp bắt cầm tù. Trong tù, ông chủ biên một tờ báo truyền tay nội bộ, để vạch trần những sự xâm phạm quyền con người và những dã tâm của giặc đối với tù nhân chính trị, cổ vũ tù nhân đấu tranh kiên định lập trường bất hợp tác, khiến giặc Pháp rất căm giận.

Thấy không thuyết phục nổi ông, trong một đêm, giặc Pháp đã hèn hạ đem ông vào Rừng Dương Nha Trang thủ tiêu. Mảnh hình hài của người con họ Hoàng mãi về sau con cháu mới tìm thấy và chuyển về an táng ở nghĩa trang liệt sĩ Nha Trang.

3.Liệt sĩ HOÀNG HỮU HÙNG: sinh năm 1928. Là em ruột của LS Hoàng Hữu Hy.

Cũng giống như anh mình, ông có mặt trong hàng ngũ CM từ những ngày tiền khởi nghĩa 1945. Ở tuổi 14, 15 mài đũng quần trên ghế nhà trường ông đã nổi tiếng giỏi văn chương.

1942 cùng gia đình lánh về Nha Trang. Sau đó, vào Sài Gòn làm công nhân của hãng Bason. Tại đây, ông hoạt động với tư cách bí mật, cùng anh chị em công nhân tổ chức đấu tranh giai cấp. Pháp trở lại Sài Gòn, ông lánh về Vĩnh Long tiếp tục công tác cũ. Ông hoạt động trên địa bàn Tân Thới Hòa, Quận Trà Ôn suốt từ 1947 đến 1949. Ông mất tích trong năm 1949 và được xác nhận Liệt sĩ. Lại thêm một người con nữa của dòng họ nằm xuống không mồ!

4.Liệt sĩ HOÀNG HỮU CHẤP: sinh năm 1916.

Là cháu nội của cụ Hoàng Giáp Hoàng Hữu Bính. Ông giác ngộ CM rất sớm, thường cùng chú ruột là Hoàng Hữu Cảnh – một thành viên của Thanh niên CM Đồng Chí Hội ở Quảng Trị – thực hiện truyền đơn in bằng Đông Sương để tuyên truyền chống Pháp. Cũng là thành viên của Việt Nam Thanh niên CM Đồng chí hội đồng thời kỳ với ông Lê Duẩn, Trần Hữu Dực, Trương Quang Phiên, Hoàng Thị Ái…

1930 thoát ly hẳn gia đình làm CM. Là cán bộ nòng cốt của Đảng CS Đông Dương vùng Nam Trung Bộ, từng bị Pháp bắt cầm tù, tra tấn nhiều lần nhưng không nao núng.

1934 ra tù lại tiếp tục hoạt động, lại bị bắt và bị đày ra Côn Đảo, mang số tù 6078.

1945 Nhật đảo chánh Pháp, tù chính trị được trả tự do, ông trở về đất liền giữ vai trò lãnh đạo khởi nghĩa dành chính quyền tại Nha Trang.

Pháp quay lại VN, đổ bộ lên Nha Trang, ông trực tiếp cầm quân chống giặc, thất trận bị giặc bắt và mất tích luôn từ đó, không tìm ra dấu vết mồ mã. Ông được TW Đảng tuyên dương công trạng và có tên trong danh sách những người đầu tiên hoạt động CM của tỉnh Quảng Trị trong sách “Lịch sử Đảng”.

5.Liệt sĩ HOÀNG THỊ NƯA: sinh năm 1925.

Ái nữ của cụ Hoàng Hữu Huy. Cháu nội của tiến sĩ Đệ nhị Giáp Đệ nhất danh Hoàng Hữu Bính, em cùng cha khác mẹ với LS Hoàng Hữu Chấp.

Ảnh hưởng tư tưởng cha và anh, bà rất hăng hái trong các hoạt động CM, tiếp tay cha anh hoàn thành các sứ mạng khó khăn bí mật, nhất là tại vùng Tân Trại, Vĩnh Linh – Quảng Trị. Thời kỳ chống Pháp, đang trên đường công tác bị máy bay Pháp tấn công trúng đạn hy sinh tại Thạch Tràng. Mộ trước ở Thạch Tràng sau được chị là Hoàng Thị Quả di dời về nghĩa trang liệt sĩ Đông Hà – Quảng Trị. Bà là một trong những “hoa khôi” của dòng họ, nhưng đáng tiếc là: “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu”. Hồng nhan bạc mệnh, bà mất lúc tuổi xuân vừa mới 26.

6. Liệt sĩ HOÀNG HỮU ĐIỀN (tức Ngọc Điền) – Sinh 1927.

Cũng là cháu nội của Đình nguyên Đệ nhị Giáp Tiến sĩ Hoàng Hữu Bính. Học sinh trường trung học Khải Định Huế. Bí mật tham gia CM trong đội tuyên truyền xung phong thành phố Huế.

1947 chính thức là cán bộ ty Công An nhân dân Thừa Thiên.

1948 hy sinh và mất tích trong một chuyến công tác – gia đình quyết định ngày 17-3 Mậu Tý (1948) là húy nhật của ông.

Một thanh niên tài hoa rất mực. Nhạc, họa đều thành thạo. Tính người năng động, tháo vát. Có chân trong hội đoàn hướng đạo sinh lúc bấy giờ.

Được xác nhận liệt sĩ nhưng không biết mồ mã nơi đâu.

7.Liệt sĩ HOÀNG HỮU QUÊ: sinh năm 1926.

Cũng là cháu nội cụ Hoàng Giáp. Đang học Đệ Tam Trường Khải Định đã bí mật cùng anh là Hoàng Ngọc Điền hoạt động trong đội tuyên truyền xung phong của lực lượng sinh viên Huế, nhưng ông thường mở rộng hoạt động ra tới Quảng Trị.

1945: CM Tháng 8 thành công, ông “xếp bút nghiên” gia nhập giải phóng quân Trung đoàn Trần Cao Vân – đơn vị vũ trang chính qui đầu tiên của CM – tiền thân của Vệ quốc đoàn – Quân đội nhân dân VN.

1946: Pháp trở lại Đông Dương, đổ quân từ Ai Lao xuống miền trung VN qua ngã đèo Lao Bảo Quảng Trị.

Mặt trận đường 9 bùng nổ ác liệt. Ông đăng ký vào đội quân “quyết tử” qua nước bạn làm nghĩa vụ Quốc tế và mất tích cùng “trọn gói” đồng đội tiểu đội 11 trong trận đánh quanh thị trấn Tchépaul.

Đây là một nhân tài sớm nở của dòng họ, từng đoạt giải nhất toàn tỉnh về môn Luận văn Quốc ngữ trong kỳ thi Tiểu học Pháp Việt 1940 tại Quảng Trị (Rédaction d’Annamite).

Sở trường về Hội họa – đặc biệt bộ môn chân dung, âm nhạc với tài nghệ thổi sáo trúc, bơi lội, bắn ná cao su bách phát bách trúng…

Ngày được giấy báo tử của con, thân phụ ông tiếc thương xúc động, có làm một bài thơ “khóc con” như sau:

Gẫm thế sự đắng cay chua xót
Chốn Sa trường đã trót hy sinh
Chân trời góc núi lênh đênh
Đem thân chiến sĩ đổi mình thư sinh
Ngoài biên giới vẹn tình non nước
Trong gia hương này ước mai ao
Biết con xiêu lạc nơi nào
Biết con sinh tử ra vào mấy phen!
Đem xương máu báo đền ơn nước
Trên chiến trường con được thơm danh
Quạnh hịu trong chốn gia đình
Cha trông mẹ nhớ khối tình nhân hai
Thôi, hết nghĩ đường dài phận trẻ
Mối đoạn trường chia xẻ ai hay!
Câu thơ giọt lệ tỏ bày
Trông lên rặng núi biết ngày nào nguôi.
Đời người đến thế thì thôi!

HÀM QUANG (Bích Khê 1946)

Để tưởng niệm một liệt sĩ chết không mồ, gia đình có xây một tiểu tháp cho ông tại nghĩa trang thành phố Huế vào năm 1998.

8.Liệt sĩ HOÀNG HỮU ĐỀ: Sinh 22-12 Mậu Thìn (1-2-1929)

Sau khi thi xong bằng tiểu học Pháp Việt, ông cũng như anh em đồng trang lứa trong dòng họ đều tham gia hoạt động CM, hưởng ứng lời kêu gọi toàn dân đứng lên dành chủ quyền dân tộc. Ông được đặt phục vụ tại Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị.

1948 được đề cử theo học trường Đảng ở Liên Khu 4. Thời gian sau, ông tình nguyện vào quân đội sang chiến đấu ở Lào với chức vụ Trung đội trưởng, thuộc quân số trung đoàn 101/SĐ 325 Vệ quốc quân.

Trong một trận đánh với giặc Pháp ở Mường Mun Bassac Hạ Lào ngày 16-6-1954 ông đã hy sinh và mất tích. Và cũng như các ông chú, ông anh của ông trong chi nhất họ Hoàng, nắm xương ông chẳng biết vùi lấp chốn nào giữa rừng núi hạ Lào bạt ngàn trùng trùng điệp điệp. Gia đình thương tiếc có xây mộ thờ vọng tại nghĩa trang Nương Âm Bích Khê bên cạnh mộ của các người thân.

9. Liệt sĩ HOÀNG HỮU CHƯƠNG: Sinh 1940.

Từ nhỏ đã hiển lộ trí thông minh. 1964 thoát ly gia đình tham gia kháng chiến, sở trường về công tác tuyên truyền địch vận. Chiến khu Ba Làng là vùng căn cứ, nơi xuất phát các chương trình kế hoạch tinh tế lôi kéo binh sĩ địch quay về với kháng chiến do ông phụ trách.

Trong một lần đang trên đường công tác, ông bị bọn kỵ binh bay của Mỹ phục kích bắn chết tại phía Nam đường 9 Lào. Thi hài may mắn được tìm thấy và về sau đã được di dời về nghĩa trang liệt sĩ Đông Hà Quảng Trị.

Ông hy sinh ngày 11-3-1971 hưởng dương 32 tuổi.

NẾP NHÀ
tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin

  TƯỞNG NIỆM
Kính dâng hương linh liệt sĩ – bào huynh Hoàng Hữu Quê

Lửa máu chiến trường xưa
Đã mịt mù dấu tích
Ơi hồn thiêng gió mưa
Về đây vui thường tịch
Đất với người cũng một
Cỏ, máu vốn chung nguồn
Không chia dòng xanh, đỏ
Trên mạch tình quê hương!
Mượn vóc đá Trường Sơn
Nuôi nấng hồn Quốc Tổ
Ơi anh linh cô đơn
Về đây cùng tháp mộ!
Non cao thông reo gió
Đồi sỏi bóng trăng chơi
Mẹ cha nằm cạnh đó (1)
Chắc mỉm cười anh ơi!

                                                             HOÀNG HỮU CHỈ + HOÀNG HỮU THỤC

(1) Mộ của ông bà thân sinh ở sát tháp tưởng niệm liệt sĩ Hoàng Hữu Quế.
(tiết Thanh minh Mậu Dần 1998 dựng tháp tưởng niệm ở nghĩa trang thành phố Huế)