Bài 5
Ngài HOÀNG HỮU BỈNH
(1869 – 1946)


Ngài HOÀNG HỮU BỈNH – ( người thứ tư hàng đầu-phải qua trái) cùng các quan đại thần triều Nguyễn.
Cụ là con trai út của ngài Hoàng Hữu Lợi và bà Hồ Thị Giá sinh ngày mùng 2 tháng 9 năm Kỷ Tỵ 1869) trong một gia đình nho giáo.Thân phụ cụ, ngài Trung nghị đại phu Đô Sát viện phó đô ngự sử Hoàng Hữu Lợi mất vào năm 1876, lúc cụ mới lên 7 tuổi, được ngài thân mẫu, bà tứ phẩm cung nhân Hồ Thị Giá, hết lòng nuôi dưỡng bảo bọc cụ được theo học chữ nho dưới sự hướng dẫn của bào huynh, cụ Hiệp Biện đại học sĩ Hoàng Hữu Xứng và đặc biệt được đường điệt, ông Đình Nguyên nhị giáp, Quang lộc Tự khanh Hoàng Hữu Bính, tận tình dắt dìu, hướng dẫn .
Năm Thành Thái thứ 3, Tân Mão 1891 (22 tuổi) đậu cử nhân
Năm Thành Thái thứ 10, Mậu Tuất 1898 (29 tuổi) thi Hội đủ phân số 3 trường.
Năm Thành Thái thứ 11, Kỷ Hợi 1899 (30 tuổi) thọ Hàn lâm viện Điển Tịch, bổ giáo thọ phủ Điện Bàn, Quảng Nam, rồi thăng Hàn lâm viện trước tác, lãnh tri huyện An Định (Thanh Hóa) rồi tri huyện Thạch Hà và Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Năm Duy Tân thứ 5, Tân Hợi 1911, về thừa chỉ Nội các.
Năm Duy Tân thứ 9, Ất Mão 1915, thăng Tri phủ Tỉnh gia, Thanh Hóa.
Năm Khải Định thứ 3, Mậu Ngọ 1918, Lang trung bộ công thăng Hồng lô tự khanh.
Năm Khải Định thứ 9, Giáp Tý 1924, thăng Quang lộc tự khanh (55 tuổi) về hưu.
Năm Bảo Đại thứ 13, Kỷ Mão 1938 thăng Thái thường tự khanh.
Bản tính cụ rất ngay thẳng, thông minh, hiếu thảo, làm quan lấy lòng Nhân mà xử thế, giúp dân, nên suốt cả cuộc đời làm quan khi về hưu vẫn nghèo, nhưng cụ rất tự hào với chữ “Thanh Bần” nghèo mà trong sạch.
Trong thi tứ cụ vẫn thường an phận hãnh diện với thú điền viên đạm bạc trong câu thư mừng xuân sau đây:
Hết Mão qua Thìn sắn với khoai,
Xuân đi xuân lại thưởng xuân hoài.
Lá xanh gốc thẳng ngoài sân trắc
Nhụy thắm bông vàng cạnh bể mai.
Trong gia đình cụ thường nhắc nhở dạy bảo con cháu luôn luôn giữ đạo “hiếu” cụ đã đích thân ghi lại đầy đủ chi tiết về ngày giờ sinh của 22 người con để lại trong cuốn gia phả bằng chữ nho.
Lúc về hưu, cụ rất thiết tha gắn bó với quê hương xóm làng. Hàng ngày bà con trong xóm làng có việc hiếu hỉ thường đến xin cụ câu đối, trướng, chỉ trong chốc lát cụ đã ứng khẩu đặt cho mỗi trường hợp những câu đối trướng thích nghi với hoàn cảnh mà mọi người đều kính phục.
Đặc biệt với giang sơn làng Bích Khê, vì ranh giới giữa hai làng Bích Khê và làng Trung Kiên không được rõ ràng, lấy con sông Thạch Hãn làm ranh giới mà sông thì theo thời gian mỗi ngày mỗi di dịch vì lũ lụt, mỗi năm phía đất làng Bích Khê mỗi bị lở, mà phía làng Trung kiên thì được bồi.
Cụ đã làm điều trần gởi vào bộ Hộ để xin ấn định lại ranh giới vì một phần lớn đất của làng Bích Khê đã bị lở, và đất ấy được bồi sang làng Trung kiên.
Được Bộ Hộ phúc “Dĩ Giang Vi Giái” lấy sông làm ranh giới.
Quá phẫn nộ với câu phúc đáp thiếu trách nhiệm của bộ Hộ lúc bấy giờ, cụ đã làm bản điều trần khác nhấn mạnh với câu:
Phù ký vị chi Giang
Tắc gian hà nhật hạ thôi di
Chung vô khả vãn chi kỳ.
Giang hà giái đắc!
Dịch
Phàm sông ngòi
Sẽ di dịch theo thời gian
Kết luận làm sao
Lấy sông làm ranh giới được
Với bài điều trần trình bày hợp lý trên, bộ Hộ phải ra lệnh cho Tòa Tuần phủ Quảng Trị cử một phái đoàn về đo đạc và ấn định lại ranh giới làng Bích Khê và làng Trung kiên bằng cách dựng một trụ mốc trên phía đất bồi. Do đó phần đất phù sa ở phía làng Trung kiên hiện nay thuộc về công thổ của làng Bích Khê là nhờ sự đấu tranh của cụ lúc bấy giờ.
Ngày đón phái đoàn của tỉnh về đo đạc để ấn định lại mốc giới của làng Bích Khê là ngày hội lớn của dân làng Bích Khê, tất cả mọi người đều rất hân hoan với cờ trống để đi dự ngày trọng đại ấy của Giang sơn.
Thành quả của việc này đạt được không những bà con trong làng Bích Khê đều mừng rỡ ca ngợi, mà tất cả bà con trong các làng lân cận, trong tổng, trong phủ đều kính phục.
Trong dịp mừng này cụ có bài thơ như sau:
Bán bách niên lai nhất hội đồng
Bích Khê thùy thị chủ nhơn ông
Đồi ba ngật dĩ trung lưu trụ
Ngọc thụ y diên tạc dạ bồng
Tha nhận thôi di khoan hậu lự
Thiên niên để tạo bí tiền công
Trung ư tiêu trưởng dinh hưu lý
Tự hữu trung hành bá chí công.
Dịch
“Trải nữa trăm năm mới hội đồng
Ấy ai làm chủ có hay không
Non sông chống lại thuyền trên nước
Sóng gió ghê chi cột giữa dòng
Hai phía lở bồi cơ tạo hóa
Ngàn năm gìn giữ nghiệp cha ông
Khi nên trời cũng chiều người vậy
Hết rủi rồi may thấy lẻ công”.
Trong tuổi già, cụ được các vị hiền thê bà Trần Thị An và Trần Thị Phiến cùng con, dâu chăm sóc rất chu đáo.
Năm 1946, vì tuổi cao, cụ lâm bệnh và từ trần lúc 8 giờ ngày 23-10 Bính Tuất (tức thứ bảy 15-11-1946) hưởng thọ 78 tuổi). Lễ an táng cụ được cử hành rất trọng thể tại làng Bích Khê với sự tham dự đông đủ con, cháu nội ngoại, thân bằng quyến thuộc, thông gia, cả họ, cả làng, trong hàng vạn bạn bè có quý cụ hưu quan như: cụ Bố Chánh Nguyễn Kỳ Quảng Điền, cụ Ngự sử Đô Sát Viện Quan Lộc Tự khanh Phan Triệu Khanh, cụ Giáo liêm…
Cụ được an táng tại nghĩa trang Cồn Giàng, làng Bích Khê. Ngôi mộ được xây lăng dựng bia rất chu đáo. Năm 1977, kim cốt cụ cùng ngài thân mẫu, các vị phu nhân và một số người thân yêu quá cố trong gia đình đã được đưa vào nam, an vị tại tầng thứ ba Tháp Phổ Đồng, An dưỡng địa Phú Lâm. Năm 1990, toàn bộ linh cốt trong gia đình được an táng tại khu nghĩa trang Hoàng Bích Khê tại Gò Dưa.
Qua tiểu sử, chúng ta thấy được suốt cuộc đời cụ đã để lại cho chúng ta biết bao gương tốt trong cách xử thế, từ trong gia đình đến quê hương xóm làng.
Hằng năm 23-10 Đinh Mão, kỷ niệm ngày giỗ thứ 41 của cụ chúng ta tề tựu nơi đây, đứng trước bàn thờ cụ, hướng về quá khứ, liên hệ đến cuộc sống hiện tại của chúng ta, mặc dù trải qua bao nhiêu biến cố, thử thách thăng trầm, tất cả con, cháu, chắt, chiu nội ngoại của cụ đến giờ phút này vẫn còn có được một cuộc sống mặc dù không giàu có nhưng vẫn được tương đối thoải mái, là cũng nhờ sự đùm bọc của những người thân yêu ruột thịt.
Sự đùm bọc, giúp đỡ, che chở nhau trong gia đình Hoàng Hữu không phải ngẫu nhiên, mà do truyền thống tốt đẹp có từ ngàn xưa từ các thế hệ cha, ông của chúng ta để lại cho chúng ta thừa hưởng hôm nay. HOÀNG HỮU LẠC(Đời 14)
Đền ngài Hoàng Hữu Bỉnh tại làng Bích Khê

Ông HOÀNG HỮU HẠCH tại khu nghĩa trang dóng cố Thái ở Thủ Đức.(TPHCM)
Bà Kiều Tiên ở TPHCM và ông Hoàng Tất Đạt từ Mỹ về làm lễ an táng bà Hoàng Hữu Gia
Bà con tham dự lễ an táng bà Hoàng Hữu Gia tại nghĩa trang Thủ Đức.




