Bài 10
CUỘC ĐỜI NHẠC SĨ HOÀNG THI THƠ
Qua lời kể của nhạc sĩ HOÀNG THI THAO

HOANGTHITHAO 1Nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, thần đồng vĩ cầm của thập niên 1960 ở Miền Nam Việt Nam là cháu kêu nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ bằng chú ruột. Ông được nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ chăm sóc nuôi dưỡng như con ruột và rèn luyện kỹ năng âm nhạc nghệ thuật như một vị sư phụ truyền nghệ cho đệ tử. Hoàng Thi Thao có nhiều năm tháng sống và làm việc bên cạnh chú nên biết được rất nhiều điều trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ.
Năm 2006, nhân dịp kỷ niệm 6 năm ngày mất của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nhạc sĩ Hoàng Thi Thao đã giới thiệu hầu như toàn bộ thân thế sự nghiệp của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ với cái nhìn của một văn nghệ sĩ và với tình cảm của một người thân trong gia tộc. Bà con có thể tìm hiểu thêm về cuộc đời của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ qua lời kể của Hoàng Thi Thao được ghi lại với âm thanh trực tiếp trên mạng.Ngoài ra,xin xem bài viết chính thức về nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ
trên chuyên mục Văn hóa Văn Nghệ của trang web này,

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và bà con ở Huế,
Bài 11
SAO CỦA ĐẤT
hay là đôi nét
về cuộc đời 9 liệt sĩ cách mạng họ Hoàng
- Hoàng Hữu Hốt 6. Hoàng Hữu Điền (Ngọc Điền)
- Hoàng Hữu Hy 7. Hoàng Hữu Quê
- Hoàng Hữu Hùng 8. Hoàng Hữu Đề
- Hoàng Hữu Chấp 9. Hoàng Hữu Chương
- Hoàng Thị Nưa
Trong suốt bề dày của lịch sử đấu tranh giành Độc lập dân tộc, họ Hoàng Bích Khê hãnh diện đã có không ít con cháu mình đóng góp công lao máu xương cho đại cuộc.
Chỉ riêng với một Chi nhất A đã có 3 người thuộc đời 15 và 6 người thuộc đời 16 được nhà nước cách mạng chính thức công nhận là liệt sĩ.
9 người con thuộc 2 thế hệ của một dòng họ nổi danh khoa bảnm kể từ đời Thượng Thỉ Tổ Hoàng Công Hội dựng nghiệp đến nay.
“Tâm” và “Huyết” của những liệt sĩ này của dòng họ đã làm cho 2 chữ “Hoàng Hữu” sáng hơn, cao lớn hơn. Họ chính là những “vì sao của đất”, “nguồn máu của hoa”. Họ dù chết đi, có kẻ không có một nấm mồ, một bia đá, nhưng tên tuổi họ, công lao họ sẽ luôn gắn liền với công sức tổ tiên, vinh quang của dòng họ. Ánh sáng của những vì sao rực lên từ đất, những dòng máu đã ngấm vào đất để làm tươi lên mãi màu cờ Tổ quốc bông hoa “Hoàng Hữu” và ruộng đồng quê hương.
- Liệt sĩ HOÀNG HỮU HỐT: ông sinh năm 1925.
1940 tốt nghiệp tiểu học Pháp Việt. 1945 hoàn tất chương trình trung học đệ nhất cấp, tình nguyện vào giải phóng quân, chiến đấu tại mặt trận thành phố Huế và có mặt trong trận đánh nổi tiếng ở nhà hàng Morin Frères: “trận Ớt mọi”. Gọi là “trận Ớt mọi”, vì theo lời kể lại của dân gian thời ấy, trong trận đánh này, để gây khó khăn cho lũ giặc Pháp bị quân ta bao vây co cụm lại trên tầng lầu nhà hàng lớn nhất Huế này, quân dân thành phố Huế đã dùng “ớt mọi” – một loại ớt bột cực cay – trộn vào rơm để đốt xông khói lên. Rất không may cho quân ta vì sau đó ngọn gió trở chiều phá hỏng kế hoạch và quân ta đã không chống nổi trước sức phản công của giặc, phải rút lui. Ông Hốt đã mất tích trong cuộc chiến đấu không cân sức này. Cho đến nay, tuy gia đình đã nhận được bằng TQGC của nhà nước truy tặng nhưng nắm xương tàn của liệt sĩ thì vẫn còn dấu kỹ đâu đó trong lòng đất cố đô.
2. Liệt sĩ HOÀNG HỮU HY: sinh năm 1919
Trước CM tháng 8 là thành viên cốt cán của phong trào VM Sài Gòn. Ngày Pháp trở lại Sài Gòn ông đưa gia đình về thành phố Biển Nha Trang lánh cư và cũng để tránh tai mắt mật thám Pháp. Tại Nha Trang, ông là đội trưởng đội CA vũ trang của thành phố, hoạt động rất tích cực, lập nhiều thành tích cho địa phương.
Tháng 4 – 1947, bị giặc Pháp bắt cầm tù. Trong tù, ông chủ biên một tờ báo truyền tay nội bộ, để vạch trần những sự xâm phạm quyền con người và những dã tâm của giặc đối với tù nhân chính trị, cổ vũ tù nhân đấu tranh kiên định lập trường bất hợp tác, khiến giặc Pháp rất căm giận.
Thấy không thuyết phục nổi ông, trong một đêm, giặc Pháp đã hèn hạ đem ông vào Rừng Dương Nha Trang thủ tiêu. Mảnh hình hài của người con họ Hoàng mãi về sau con cháu mới tìm thấy và chuyển về an táng ở nghĩa trang liệt sĩ Nha Trang.
3.Liệt sĩ HOÀNG HỮU HÙNG: sinh năm 1928. Là em ruột của LS Hoàng Hữu Hy.
Cũng giống như anh mình, ông có mặt trong hàng ngũ CM từ những ngày tiền khởi nghĩa 1945. Ở tuổi 14, 15 mài đũng quần trên ghế nhà trường ông đã nổi tiếng giỏi văn chương.
1942 cùng gia đình lánh về Nha Trang. Sau đó, vào Sài Gòn làm công nhân của hãng Bason. Tại đây, ông hoạt động với tư cách bí mật, cùng anh chị em công nhân tổ chức đấu tranh giai cấp. Pháp trở lại Sài Gòn, ông lánh về Vĩnh Long tiếp tục công tác cũ. Ông hoạt động trên địa bàn Tân Thới Hòa, Quận Trà Ôn suốt từ 1947 đến 1949. Ông mất tích trong năm 1949 và được xác nhận Liệt sĩ. Lại thêm một người con nữa của dòng họ nằm xuống không mồ!
4.Liệt sĩ HOÀNG HỮU CHẤP: sinh năm 1916.
Là cháu nội của cụ Hoàng Giáp Hoàng Hữu Bính. Ông giác ngộ CM rất sớm, thường cùng chú ruột là Hoàng Hữu Cảnh – một thành viên của Thanh niên CM Đồng Chí Hội ở Quảng Trị – thực hiện truyền đơn in bằng Đông Sương để tuyên truyền chống Pháp. Cũng là thành viên của Việt Nam Thanh niên CM Đồng chí hội đồng thời kỳ với ông Lê Duẩn, Trần Hữu Dực, Trương Quang Phiên, Hoàng Thị Ái…
1930 thoát ly hẳn gia đình làm CM. Là cán bộ nòng cốt của Đảng CS Đông Dương vùng Nam Trung Bộ, từng bị Pháp bắt cầm tù, tra tấn nhiều lần nhưng không nao núng.
1934 ra tù lại tiếp tục hoạt động, lại bị bắt và bị đày ra Côn Đảo, mang số tù 6078.
1945 Nhật đảo chánh Pháp, tù chính trị được trả tự do, ông trở về đất liền giữ vai trò lãnh đạo khởi nghĩa dành chính quyền tại Nha Trang.
Pháp quay lại VN, đổ bộ lên Nha Trang, ông trực tiếp cầm quân chống giặc, thất trận bị giặc bắt và mất tích luôn từ đó, không tìm ra dấu vết mồ mã. Ông được TW Đảng tuyên dương công trạng và có tên trong danh sách những người đầu tiên hoạt động CM của tỉnh Quảng Trị trong sách “Lịch sử Đảng”.
5.Liệt sĩ HOÀNG THỊ NƯA: sinh năm 1925.
Ái nữ của cụ Hoàng Hữu Huy. Cháu nội của tiến sĩ Đệ nhị Giáp Đệ nhất danh Hoàng Hữu Bính, em cùng cha khác mẹ với LS Hoàng Hữu Chấp.
Ảnh hưởng tư tưởng cha và anh, bà rất hăng hái trong các hoạt động CM, tiếp tay cha anh hoàn thành các sứ mạng khó khăn bí mật, nhất là tại vùng Tân Trại, Vĩnh Linh – Quảng Trị. Thời kỳ chống Pháp, đang trên đường công tác bị máy bay Pháp tấn công trúng đạn hy sinh tại Thạch Tràng. Mộ trước ở Thạch Tràng sau được chị là Hoàng Thị Quả di dời về nghĩa trang liệt sĩ Đông Hà – Quảng Trị. Bà là một trong những “hoa khôi” của dòng họ, nhưng đáng tiếc là: “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu”. Hồng nhan bạc mệnh, bà mất lúc tuổi xuân vừa mới 26.
6. Liệt sĩ HOÀNG HỮU ĐIỀN (tức Ngọc Điền) – Sinh 1927.
Cũng là cháu nội của Đình nguyên Đệ nhị Giáp Tiến sĩ Hoàng Hữu Bính. Học sinh trường trung học Khải Định Huế. Bí mật tham gia CM trong đội tuyên truyền xung phong thành phố Huế.
1947 chính thức là cán bộ ty Công An nhân dân Thừa Thiên.
1948 hy sinh và mất tích trong một chuyến công tác – gia đình quyết định ngày 17-3 Mậu Tý (1948) là húy nhật của ông.
Một thanh niên tài hoa rất mực. Nhạc, họa đều thành thạo. Tính người năng động, tháo vát. Có chân trong hội đoàn hướng đạo sinh lúc bấy giờ.
Được xác nhận liệt sĩ nhưng không biết mồ mã nơi đâu.
7.Liệt sĩ HOÀNG HỮU QUÊ: sinh năm 1926.
Cũng là cháu nội cụ Hoàng Giáp. Đang học Đệ Tam Trường Khải Định đã bí mật cùng anh là Hoàng Ngọc Điền hoạt động trong đội tuyên truyền xung phong của lực lượng sinh viên Huế, nhưng ông thường mở rộng hoạt động ra tới Quảng Trị.
1945: CM Tháng 8 thành công, ông “xếp bút nghiên” gia nhập giải phóng quân Trung đoàn Trần Cao Vân – đơn vị vũ trang chính qui đầu tiên của CM – tiền thân của Vệ quốc đoàn – Quân đội nhân dân VN.
1946: Pháp trở lại Đông Dương, đổ quân từ Ai Lao xuống miền trung VN qua ngã đèo Lao Bảo Quảng Trị.
Mặt trận đường 9 bùng nổ ác liệt. Ông đăng ký vào đội quân “quyết tử” qua nước bạn làm nghĩa vụ Quốc tế và mất tích cùng “trọn gói” đồng đội tiểu đội 11 trong trận đánh quanh thị trấn Tchépaul.
Đây là một nhân tài sớm nở của dòng họ, từng đoạt giải nhất toàn tỉnh về môn Luận văn Quốc ngữ trong kỳ thi Tiểu học Pháp Việt 1940 tại Quảng Trị (Rédaction d’Annamite).
Sở trường về Hội họa – đặc biệt bộ môn chân dung, âm nhạc với tài nghệ thổi sáo trúc, bơi lội, bắn ná cao su bách phát bách trúng…
Ngày được giấy báo tử của con, thân phụ ông tiếc thương xúc động, có làm một bài thơ “khóc con” như sau:
Gẫm thế sự đắng cay chua xót
Chốn Sa trường đã trót hy sinh
Chân trời góc núi lênh đênh
Đem thân chiến sĩ đổi mình thư sinh
Ngoài biên giới vẹn tình non nước
Trong gia hương này ước mai ao
Biết con xiêu lạc nơi nào
Biết con sinh tử ra vào mấy phen!
Đem xương máu báo đền ơn nước
Trên chiến trường con được thơm danh
Quạnh hịu trong chốn gia đình
Cha trông mẹ nhớ khối tình nhân hai
Thôi, hết nghĩ đường dài phận trẻ
Mối đoạn trường chia xẻ ai hay!
Câu thơ giọt lệ tỏ bày
Trông lên rặng núi biết ngày nào nguôi.
Đời người đến thế thì thôi!
HÀM QUANG (Bích Khê 1946)
Để tưởng niệm một liệt sĩ chết không mồ, gia đình có xây một tiểu tháp cho ông tại nghĩa trang thành phố Huế vào năm 1998.
8.Liệt sĩ HOÀNG HỮU ĐỀ: Sinh 22-12 Mậu Thìn (1-2-1929)
Sau khi thi xong bằng tiểu học Pháp Việt, ông cũng như anh em đồng trang lứa trong dòng họ đều tham gia hoạt động CM, hưởng ứng lời kêu gọi toàn dân đứng lên dành chủ quyền dân tộc. Ông được đặt phục vụ tại Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị.
1948 được đề cử theo học trường Đảng ở Liên Khu 4. Thời gian sau, ông tình nguyện vào quân đội sang chiến đấu ở Lào với chức vụ Trung đội trưởng, thuộc quân số trung đoàn 101/SĐ 325 Vệ quốc quân.
Trong một trận đánh với giặc Pháp ở Mường Mun Bassac Hạ Lào ngày 16-6-1954 ông đã hy sinh và mất tích. Và cũng như các ông chú, ông anh của ông trong chi nhất họ Hoàng, nắm xương ông chẳng biết vùi lấp chốn nào giữa rừng núi hạ Lào bạt ngàn trùng trùng điệp điệp. Gia đình thương tiếc có xây mộ thờ vọng tại nghĩa trang Nương Âm Bích Khê bên cạnh mộ của các người thân.
9. Liệt sĩ HOÀNG HỮU CHƯƠNG: Sinh 1940.
Từ nhỏ đã hiển lộ trí thông minh. 1964 thoát ly gia đình tham gia kháng chiến, sở trường về công tác tuyên truyền địch vận. Chiến khu Ba Làng là vùng căn cứ, nơi xuất phát các chương trình kế hoạch tinh tế lôi kéo binh sĩ địch quay về với kháng chiến do ông phụ trách.
Trong một lần đang trên đường công tác, ông bị bọn kỵ binh bay của Mỹ phục kích bắn chết tại phía Nam đường 9 Lào. Thi hài may mắn được tìm thấy và về sau đã được di dời về nghĩa trang liệt sĩ Đông Hà Quảng Trị.
Ông hy sinh ngày 11-3-1971 hưởng dương 32 tuổi.
NẾP NHÀ
tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin
TƯỞNG NIỆM
Kính dâng hương linh liệt sĩ – bào huynh Hoàng Hữu Quê
Lửa máu chiến trường xưa
Đã mịt mù dấu tích
Ơi hồn thiêng gió mưa
Về đây vui thường tịch
Đất với người cũng một
Cỏ, máu vốn chung nguồn
Không chia dòng xanh, đỏ
Trên mạch tình quê hương!
Mượn vóc đá Trường Sơn
Nuôi nấng hồn Quốc Tổ
Ơi anh linh cô đơn
Về đây cùng tháp mộ!
Non cao thông reo gió
Đồi sỏi bóng trăng chơi
Mẹ cha nằm cạnh đó (1)
Chắc mỉm cười anh ơi!
HOÀNG HỮU CHỈ + HOÀNG HỮU THỤC
(1) Mộ của ông bà thân sinh ở sát tháp tưởng niệm liệt sĩ Hoàng Hữu Quế.
(tiết Thanh minh Mậu Dần 1998 dựng tháp tưởng niệm ở nghĩa trang thành phố Huế)
Bài 12
Bà HOÀNG THỊ ÁI
TẤM GƯƠNG SÁNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM

Bà Hoàng Thị Ái
Sinh ngày 27-6 năm Tân Sửu tức 11 – 8 – 1901 thân phụ của bà là ngài Hoàng Hữu Kiểm, tự Đoan Phong, con thứ 6 của ngài Hoàng Hữu Xứng. Ngài Hữu Kiểm kiêm thông nho học và Tây học nhưng không chịu làm việc cho tây, về làng dạy học sau bị bịnh mất khi bà Ái mới lên 6 tuổi. Các anh chị em ruột của bà như Hữu Xán, Hữu Thước, Thị Du đều tham gia cách mạng.
Bà tham gia Việt Nam cách mạng đồng chí hội năm 1927. Ba lần bị Pháp bắt giam tổng cộng là 10 năm 7 tháng tù. Thuở còn xuân sắc bà cũng đã có một cuộc tình trong máu lửa và nước mắt. Người yêu và cũng là đồng chí của bà là ông Nguyễn Phong Sắc tức Thịnh, một liệt sĩ cách mạng thuộc thế hệ tiền bối. Năm 1930, ông Sắc tham gia lãnh đạo phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bị thực dân Pháp kết án tử hình. Bà và ông Sắc có một đứa con, sau bị bệnh chết.
Tuy xuất thân trong một đại gia đình phong kiến nhưng bà đã sớm lập chí theo con đường cách mạng. Con đường đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời của bà rèn luyện cho bà một phẩm chất tốt đẹp như viên ngọc được mài dũa.
Có lần trên đường công tác, khi đi qua một cây cầu nhỏ thì hai đầu cầu xuất hiện hai tên mật vụ chó săn. Oan gia ngõ hẹp, bà chỉ còn cách nhảy xuống sông, may mắn thoát được. Có lần bị bắt đưa ra trước công đường Phủ Doãn Thừa Thiên Huế. Người tra hỏi bà là Ưng Trình, một viên quan lại thân Pháp của triều đình Huế. Biết bà có mối quan hệ thân tộc với nhiều vị khoa bảng đồng liêu nên Ưng Trình đem mối quan hệ ấy ra dụ dỗ, rúm ép nhưng bà dùng lời lẽ quyết liệt đối đáp với Ưng Trình. Về sau viên quan này đặc biệt chú ý tới những người họ Hoàng đang làm quan đương thời. Ngài Hoàng Hữu Kiệt đang làm tri huyện, bị y điềm chỉ với chính quyền bảo hộ, cho về hưu non.
– Năm 1945, bà Hoàng Thị Ái được nhận trách nhiệm tỉnh ủy viên.
– Cuối năm 1945, xứ ủy phụ trách Bí thư Phụ nữ vận Trung Bộ.
– 1946 – 1963: Trúng cử ban chấp hành TW Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam.
– 1951 – 1956: Bí thư Đảng Đoàn.
– 1957 – 1963: Phó chủ tịch TW Hội LHPN. Bà đã được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.
Tính đến cuối năm 2000, bà đã thọ 101 tuổi đời và 70 tuổi Đảng. Năm bà 95 tuổi, ông Tổng Bí thư Đỗ Mười thay mặt Trung Ương đảng đến chúc thọ bà. Năm bà tròn 100 tuổi, ông Tổng bí thư Lê Khả Phiêu cũng dành cho bà vinh dự nói trên.
Tuy được Đảng và nhà nước rất ưu ái nhưng bà không bao giờ đòi hỏi gì cho riêng mình. Không hề có biểu hiện công thần địa vị. Hiện bà đang sống những ngày cuối đời ở Hà Nội – giản dị và thanh bạch không khác gì thời còn chiến tranh.
Bà Hoàng thị Ái không chỉ là tấm gương sáng của những người cộng sản mà còn là niềm tự hào của bà con họ Hoàng và là tấm gương lớn của người phụ nữ Việt Nam.
HOÀNG TRÂM ANH
Bài 13
- «MỐI TÌNH ÉO LE 70 NĂM TRƯỚC
CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ 99 TUỔI
Một người đàn bà nhỏ bé nhưng can trường, sống trên gác hai của ngôi nhà 35A phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Nội, cùng với vợ chồng con cái người cháu trai. Ngôi nhà náu mình trong sự yên tĩnh. Người đàn bà náu mình trong những hồi ức và kỷ niệm ngọt bùi lẫn cay đắng, gian khổ lẫn vinh quang… Bước sang năm 1999, bà cũng có cho mình gần trọn một thiên niên kỷ, với 99 mùa thu, 99 mùa đông, 99 mùa xuân, 99 mùa hạ trong cuộc đời không giống ai. Bà từng giữ những chức vụ quan trọng như Bí thư Đảng Đoàn TW Hội Phụ nữ VN, Phó chủ tịch Hội LHPNVN đầu tiên… sau khi Cách mạng Tháng tám thành công. Người đàn bà đó có một cái tên không xa lạ: bà Hoàng Thị Ái.
Không chồng, không con, chưa từng một lần được mặc áo cô dâu, lúc về già lại ốm đau bệnh tật… Hình ảnh của bà đôi khi khiến nhiều người thấy chạnh lòng, thương cảm lẫn kính trọng. Chỉ những ai gần gũi với bà, hiểu bà thì mới hiểu được, ngoài sự bằng an tuyệt vời trong tâm hồn bà, trong trái tim bà – một tâm hồn nhân hậu thủy chung, một trái tim bền bỉ yêu thương, còn có một tâm sự riêng tư sâu kín. Được bù đắp bởi những đồng chí, bởi những đồng nghiệp các thế hệ ở Hội Phụ nữ, được các cháu con em mình quây quần sớm tối, với bà thế là đủ, là không cần đòi hỏi gì hơn nữa. Duy trong lòng bà, vẫn ẩn nhẫn một tình cảm lạ lùng đã chiếm cứ suốt những năm tháng tuổi trẻ, để trong cô đơn mà vẫn không cảm thấy cô đơn, trong khổ đau mất mát vẫn được sưởi ấm mạnh mẽ… 70 năm trước, khi bà 29 tuổi, hoàn cảnh của đất nước, của cách mạng và những người hoạt động cách mạng đã đưa đẩy bà đến với một tình yêu. Dù rất ngắn ngủi,lại đầy éo le trắc trở, song thực sự mối tình éo le ấy, đến hôm nay đã 99 tuổi, vẫn là những gì thật đáng để trân trọng và tìm hiểu. Qua đó, cũng có thể nhìn thấy những điều lớn lao hơn mà chỉ những người cộng sản, những người một lòng một dạ với cách mạng mới có thể có được…
Nhà máy chè Tu-ran ở Quảng Trị năm 1929. Lúc này bà Hoàng Thị Ái là một trong những phụ nữ đầu tiên tham gia cách mạng và hoạt động bí mật. Công việc của cô Ái là buôn bán lấy tiền gây quỹ cho Hưng nghiệp hội xã, một tổ chức tiền thân của Đảng CS, do vậy, có thể nói bà Hoàng Thị Ái đã tham gia hoạt động cách mạng và có tuổi Đảng từ trước ngày thành lập Đảng, như một số đồng chí lão thành cách mạng khác. Điều đáng nói là, tại Nhà máy chè Tu-ran năm đó, trong vai vợ một người công nhân, một bước ngoặt lớn đã diễn ra trong cuộc đời cô gái trẻ. Theo phân công của tổ chức, cô Hoàng Thị Ái – cán bộ giao liên của Xứ ủy sẽ đóng vai “vợ”, đồng chí Nguyễn Phong Sắc – Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ – đóng vai “chồng”, vào hoạt động tại đây. Gần 2 năm liền như vậy. Sự đồng cam cộng khổ, sự gần gũi chia sẻ giữa hai người đồng chí đã làm nảy sinh một tình cảm sâu sắc. Họ yêu nhau. Tổ chức biết, cũng động viên họ cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. “Tinh thần của chúng tôi lúc đó là trường kỳ kháng chiến, cách mạng chưa biết bao giờ sẽ thắng lợi!”.
Bây giờ, người đàn bà 99 tuổi kể lại: “Chúng tôi có với nhau một đứa con gái. Nhưng lúc đó không thể để con theo cùng, đành phải nhờ một người đồng chí nuôi hộ… Tôi sinh con được 7 ngày đã phải đi làm giao liên chuyển tài liệu… Đi giữa đường, máu ra nhiều quá, phải lánh ra bụi cây để chùi bớt… chỉ sợ mật thám nghi ngờ theo dõi”. Thế rồi, cao trào Xô viết Nghệ tĩnh 1930 – 1931 nổ ra, thành công và thất bại. Người trực tiếp lãnh đạo phong trào lúc bấy giờ là đồng chí Nguyễn Phong Sắc trên đường ra họp ở trung ương đã bị tên phản bội Nghiêm Thượng Biền chỉ điểm cho mật thám bắt giữ ngay tại ga Hàng Cỏ (Hà Nội). Sau đó chúng đem đồng chí về Vinh giam giữ và khai thác nhưng không có kết quả, đã thủ tiêu đồng chí trong tù, nay vẫn chưa tìm ra mộ. Đồng chí Nguyễn Phong Sắc, người trai Hà Nội, người được gọi là “Người cộng sản đầu tiên của Hà Nội”, “ngọn cờ đầu của cao trào XVNT” đã hy sinh quật cường như thế… Bà ngậm ngùi:
– Con gái của chúng tôi được một cơ sở cách mạng nuôi hộ, một năm rưỡi sau thì cháu mất vì đói quá. Cùng mất với còn có con gái của đồng chí ấy. Do bị lộ, cả hai vợ chồng bị Pháp bắt giam, hai đứa trẻ bơ vơ không có gì ăn… Bản thân tôi giai đoạn đó cũng bị Pháp bắt tù 2 lần tổng cộng 5 năm. Năm 1936 mới được thả ra, tôi tìm lại gia đình đồng chí ấy thì mới rõ mọi chuyện…
Sau chuyện đó, tôi lao vào công tác. Không còn nghĩ đến chuyện lập gia đình nữa. Năm 1940 tôi lại bị Pháp bắt, cũng ngay tại NM chè Tu-ran, rồi bị chúng đem ra giam ở Hỏa Lò. 5 năm sau, nhờ phong trào đấu tranh dân chủ mà được thả sớm vài tháng, tôi còn kịp tham gia khởi nghĩa tháng tám 1945 sau khi trúng cử Tỉnh ủy và tham gia thành lập Ủy ban khởi nghĩa tại Bình Trị Thiên. Cuối năm 1945, tôi lại được bầu vào Xứ ủy, sau đó đảm nhiệm chức vụ Bí thư phụ vận Trung Bộ từ năm 1946 đến 1948. Đến năm 1949 tôi trúng cử BCH Phụ nữ T.W và đảm nhiệm lần lượt các chức vụ Bí thư Đảng Đoàn Phụ nữ T.W, Phó chủ tịch T.W Hội PNVN… 1/7/1963 thì nghỉ hưu…”.
Cuộc đời một người đàn bà, từng chết đi sống lại bởi những ngón đòn tra tấn dã man trong nhà tù thực dân, cũng không so sánh được với những mất mát, éo le khi hạnh phúc làm vợ, làm mẹ của bà chỉ là một giấc mơ ngắn ngủi. Sự thật ấy, bà không chỉ mang nó trong lòng, mà còn cố gắng sống và làm việc một cách xứng đáng. Thật thà, tốt bụng “vì tôi là nông dân” như bà nói, nhưng chính gốc gác của một gia đình khoa bảng danh giá lâu đời ở Huế lại đảm bảo cho bà một nhân cách sống hết lòng vì lý tưởng cách mạng, hết lòng vì người khác… Có lẽ vì vậy, ở tuổi 99, bà vẫn có thể tự tại mà nói: “Tôi nghĩ, nhiều người có con mà không được như tôi… không phải thiếu thốn gì. Luôn được sống trong tình nghĩa”. Cuộc đời đã không phụ lòng bà.
KIM HOA
(Báo Phụ Nữ TP.HCM – 7.3.99)

Bà Hoàng Thị Ái thời ở tù

Kỷ niệm 75 năm ngày Thương binh Liệt Sĩ (27/7/2022)
BÀN GIAO CÔNG TRÌNH NHÀ THỜ ĐỒNG CHÍ HOÀNG THỊ ÁI
– NGUYÊN PHÓ CHỦ TỊCH TW HỘI LHPN VIỆT NAM❤
????Nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày Thương binh-Liệt sỹ(27/7/1947-27/7/2022), chiều ngày 22/7 Hội LHPN huyện Triệu Phong phối hợp với UBND xã Triệu Long tổ chức Lễ bàn giao công trình nhà thờ đồng chí Hoàng Thị Ái – Nguyên Phó Chủ tịch Trung ương Hội LHPN Việt Nam (giai đoạn 1949-1963) tại thôn Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong. Dự lễ bàn giao có đồng chí Trần Thị Thanh Hà, UVBCHTW Hội, Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Quảng Trị, đồng chí Đỗ Thị Ái Nguyệt, UVBTV, Trưởng ban Tổ chức Huyện ủy cùng các đồng chí đại diện lãnh đạo Ban Dân vận, Hội LHPN huyện Triệu Phong; các đồng chí đại diện Hội LHPN các xã/thị trấn, hội phụ nữ công an huyện và đại diện chính quyền thôn Bích khê, các chị CHT, đại diện Họ Hoàng và thân nhân gia đình đồng chí Hoàng Thị Ái.
Bài 14
Ông HOÀNG HỮU VỸ-(Đ 15)
NHÀ NHO CUỐI CÙNG CỦA HỌ HOÀNG

Thời kỳ làng Bích Khê còn thanh bình, cứ mỗi dịp hè, dịp Tết về quê thăm mộ anh em chúng tôi thường ghé nhà chú thím Xạ để xin tá túc vài ngày. Gia đình chú thím, mọi người đều niềm nở, hiếu khách. Từ sáng sớm ba O con gái của chú thím là Mớc chị, Mớc em và Mớc Đỉu chia nhau đi khắp vườn để thu hoạch những thứ nông sản phụ như bí, bầu, mướp, mít… gánh ra chợ Sải. Thế là bữa trưa, bữa tối cả nhà có được mâm cơm tươm tất – có cà, có cá và có cả thịt gà nhà do ông Kham, con trai của chú thím đuổi bắt trong vườn.
Trước mặt nhà chú là đoạn cuối của con đường làng. Nơi đây, rặng tre hai bên đường giao tán, rợp màu xanh và bóng mát. Nếu là vào dịp Tết thì hai bên chiếc cổng tre sẽ có câu đối do chính tay chú viết bằng chữ nôm có phụ đề chữ quốc ngữ trên giấy hồng điều: Ba nở ngoài sân cười cợt gió – Chim kêu trước ngõ đónchào Xuân. Qua khỏi sân, bước lên thềm, chú thường chơi câu đối chữ Hán, không chú thích song ngữ – dường như chỉ để một mình chú thưởng thức, ai không hiểu thì thôi: Minh nguyệt thanh phong vô tận tạng – Dã hoa đề điểu nhất ban Xuân.
Hằng ngày chú dậy rất sớm tự mình nấu nước pha trà, ngồi uống một mình trong cảnh tịch mịch. Có lần tôi cũng dậy sớm, mon men đến bên bàn trà của chú. Chú hỏi: Cháu có biết uống trà không? – Dạ biết. Cháu vẫn thường uống trà với ba cháu. – Ba cháu thích uống trà gì? – Dạ trà Tam Hỉ. – Thì cũng giống chú rồi.
Thế rồi hai chú cháu mỗi người một chung trà, im lặng nhâm nhi. Chung trà rất nhỏ, dường như phải im lặng nhâm nhi mới đủ tinh tế để thưởng thức cái hương, cái vị và cả sắc màu đậm lạt trong từng ngụm trà. Hôm ấy sau khi cạn vài chung trà, chú bỗng hỏi tôi: – Rứa mấy “eng tam” (anh em) chơi với nhau, có nghe nói thằng Kham tê có “bầu bạn” (ý là bồ bịch) chi với đứa mô trên tỉnh không? – Dạ thưa chú, tụi cháu ở xa nên cũng không rành. Mấy hôm nay cứ nghe Kham hay nhắc tới một cô bạn gái tên là Trải mà không biết họ có chi với nhau không. – Con gái mà tên Trải à, không hay lắm đâu. Chữ Trãi theo nghĩa Hán tự là chim Trĩ trống nhưng ít ai biết được nghĩa nầy. Thường người ta nghĩ ngay đến nghĩa tiếng Việt là từng trải, tức là đã nếm đủ mùi đời.
Buổi chiều, có một người đàn bà ở làng bên đến nhờ chú coi giùm một quẻ bói chân gà. Chú hỏi: cặp giò gà nầy chị luộc có lâu không? – Dạ nước sôi một lúc vừa chín tới là vớt ra liền – Rứa thì được, chứ luộc lâu quá thì đem mà ăn chứ coi bói thì không trúng trật chi mô. Rồi chú coi kỹ từng cái giò. Đoạn chú nói với bà khách: Cái giò gà bên phải chỉ việc tài lộc. Mấy ngón chân có nhiều đường huyết hồng là sắc tốt. Năm nay làm ăn buôn bán mùa màng đều thuận lợi. Còn cái giò bên trái chỉ về bản mệnh. Ở đây có ngón nội bị cong lại, cũng như ngón tay quở trách. Tức là gia đạo có gì không ổn nên ông bà không vui lòng. Vậy phải xem lại mồ mả giỗ chạp, chăm sóc cho đàng hoàng. Hai bên còn nói với nhau nhiều chuyện khác nữa. Sau độ nửa giờ, người đàn bà có vẻ tâm phục khẩu phục, vui vẻ cáo từ và không quên để lại thúng nếp tạ thầy. Té ra chú coi giò hay có tiếng. Cứ xem chùm giò gà to tướng treo lũng lẵng dưới mái hiên thì biết thầy rất đắt khách. Chú còn coi ngày cho đám cưới, đám ma, định hướng nhà, hướng mộ theo phong thủy hoặc bốc thuốc chữa bệnh… Chú làm những công việc rất chuyên môn đó mà không hề đòi tiền thù lao và bà con cũng không dám đưa tiền mà thường tạ thầy bằng những sản phẩm cây nhà lá vườn.
Người chú mà tôi kể đây là ông Hoàng Hữu Vỹ, tự là Đồng Phủ hiệu là Tây Khê. Vì ông có thời kỳ làm lý trưởng nên bà con thường gọi là ông Xạ Vỹ.Chức vụ này có vẻ như không mấy phù hợp với tính cách của người văn nho như ông nên sau khi đã soạn xong bản hương ước cho làng, ông xin nghỉ việc về nhà dạy học. Riêng đối với họ Hoàng, ông đã cùng các ngài Hữu Quỵ, Hữu Kiệt (Đ.14) và Hữu Thảng, Hữu Thước, Hữu Cảnh (Đ.15) dịch bộ gia phổ bằng chữ Hán của ngài Hoàng Hữu Xứng biên soạn ra sách song ngữ Hán Việt, làm cơ sở cho các lần tu chính gia phổ sau này…
Cứ mỗi lần nghe câu hát: “Đường xưa lối cũ, có bóng tre bóng tre che thôn nghèo”… tôi lại liên tưởng đến cái vòm tre xanh mát rượi ở cuối thôn. Nơi ấy người Nho sĩ cuối cùng của họ Hoàng là chú Tây Khê Hoàng Hữu Vỹ đã sống một đời nhẹ nhàng thanh bạch như một ẩn sĩ nhưng vẫn không quên đem sở học bình sinh của mình tích cực đóng góp vào những việc lớn nhỏ của bà con làng nước.
HOÀNG MAI

Bài 15
NHƯ BIỂN THÁI BÌNH
( NÓI VỀ PHỤ NỮ HỌ HOÀNG )
Khi được ban biên tập đặt hàng bảo tôi viết một bài về con gái họ Hoàng, tôi đã cảm thấy đây là một loại bài khó viết nên nói thiệt, vừa viết vừa run. Đụng tới “con gái họ Hoàng” là đụng tới hơn một nửa nhân số trong gia tộc.
Họ Hoàng không bao giờ coi con gái là “nữ sinh ngoại tộc” – Dầu các bà đã đi làm dâu nhà khác nhưng khi trong họ trong làng có việc khó khăn, họ vẫn quay về ghé vai đảm đương gánh vác như “muôn ngàn Thánh Gióng lại xông ra”. Giả sử giữa họ Hoàng và nhà chồng có chuyện tranh chấp , các bà bênh vực họ Hoàng là cái chắc. Phàm các việc lớn trong họ mà quên không tranh thủ sự tham gia ý kiến, đóng góp tiền của công sức của các bà là coi như các ông con trai họ Hoàng đã “tự mình lấy đá ghè vào chân”. Do thái độ sống tích cực như vậy nên kể từ thế kỷ 21, đời ông Hoàng Hữu Hạch làm “quyền tiên chỉ” ở thành phố Hồ Chí Minh, ban đại diện họ Hoàng đã có một nghị quyết rất đúng đắn và tiến bộ (mặc dù hơi trễ) là kể từ nay trong gia phổ, con gái họ Hoàng được bình đẳng với con trai. Ban tu chính gia phổ ghi chép về con gái trong họ đầy đủ thông tin tương tự. Báo hại ông Hoàng Thạch Thiết người chịu trách nhiệm về thế phổ thuộc dòng cố Hoàng Hữu Xứng, là dòng đông đảo nhất – tóc đã bạc lại càng bạc thêm. Ông nói: “Phải chi bên dòng mình ai cũng quán triệt phương châm kế hoạch hóa gia đình như bên dòng cố Hoàng Hữu Nung thì Ki (tên ông Thiết dùng nội bộ) đỡ khổ biết mấy.”
Con gái họ Hoàng phần lớn là những phụ nữ đầy cá tính. Trước tiên là những mỹ đức như thông minh, tế nhị, rất khó “bị chết hay bị thương” vì những lời đường mật của nam giới. Họ thường nói: “con ruồi bay qua tui cũng biết đực cái chứ đừng hòng qua mặt tui”. Giả sử ngày xưa nàng Mỵ Châu (con gái An Dương Vương) mà có chút gien con gái họ Hoàng trong máu thì chàng Trọng Thủy đừng hòng lấy được một cái móng chân chứ đừng nói là đánh tráo nguyên cái móng rùa nơi nỏ thần”.
Con gái họ Hoàng rất cực – nhiều người cực từ nhỏ đến lớn. Người nghèo thì phải lam lũ vất vả. Các bà Hoàng Thị Ái, Hoàng Thị Diệp – tiếng là con gái nhà quan nhưng vì mồ côi rất sớm nên phải đi bắt ốc, hái rau, kiếm củi và chẳng được đi học. Hoặc giả có bà may mắn lấy chồng khá giả thì cũng cực vì tận tụy với chồng con, hay lam hay làm. Cái đó kêu bằng “người giàu cũng khóc”.
Con gái họ Hoàng thường là những người nội trợ có đôi bàn tay vàng. Việc may vá thêu thùa, nấu ăn, bánh trái đều tinh vi, thông thạo. Phàm những khi có việc họ việc làng hoặc đám cưới giỗ thì quí bà được triệu tập về để lo phần ẩm thực. Đối với họ, lo một thực đơn vài chục món đặc sản của quê nhà để phục vụ vài trăm khách chỉ là chuyện nhỏ. Người ta nói ông chồng nào may mắn có một bà vợ là con gái họ Hoàng, được chăm sóc miếng ăn thức uống rồi thì không ai còn muốn ăn chả ăn nem của người khác nữa. (?)
Con gái họ Hoàng hiền hay dữ? Điều này chưa nghe ai nói, đúng hơn là chưa ai dám nói. Có điều ít thấy có trường hợp nào mà con gái họ Hoàng bị chồng ăn hiếp.
Con gái họ Hoàng đẹp hay xấu? Xin trả lời một cách khiêm tốn: họ Hoàng xưa nay đều có những người đẹp. Quí bà Hoàng Thị Bích Hà, Hoàng Thị Huế, Hoàng Thị Ý, Hoàng Thị Tần, con gái của ngài Hoàng Hữu Bỉnh (Đ.13) từng được mệnh danh là “tứ đại mỹ nhân” đời 14. Đời 15 có quí bà Hoàng Thị Hạnh, Hoàng Thị Thanh (con ông Hoàng Hữu Sáo) bà Hoàng Thị Vân, Hoàng Thị Tú Tâm (con ông Hoàng Hữu Kiệt)… Hồi bà Hoàng Thị Thanh còn son trẻ, mỗi khi bà xuất hiện trong đám giỗ thì những người đàn ông khác họ đều quay mặt nhìn về phía bà đến nỗi có người gắp lộn vào bát của người bên cạnh. Còn bà Tú Tâm thì nước da trắng đến nỗi nhìn xa cứ tưởng bà đầm nào bị đi lạc nên từng bị du kích Việt Minh bắt lầm. Đời 16 có các bà Hoàng Thị Hoằng, Hoàng Thị Dưa… Năm 18 tuổi, bà Hoằng có chụp một tấm ảnh nơi gốc cây mít ở nhà thờ chi. Quả là một nhan sắc “mít thẹn hoa nhường”. Bức ảnh ấy không hiểu sao lại rơi vào tay một viên đồn trưởng ở trên tỉnh. Thế là y quyết định mở một cuộc hành quân bố ráp vào làng Bích Khê để lùng bắt người đẹp. May mà bà Hoằng đã cao chạy xa bay rồi tiện đường đi làm cách mạng luôn. Còn nữa, trong nhà ông Hoàng Ngọc Bảo ở Pháp có một số tấm ảnh bà Hoằng lúc trẻ. Một số người Pháp đến nhìn thấy cứ trầm trồ hỏi han xin làm quen. Vào năm 2000, bà đã ngoài sáu mươi nhưng vẫn còn phong độ khá đẹp lão, nhất là mái tóc bạch kim thì rất ấn tượng.
Ai cũng một thời trẻ trung xuân sắc đầy tự hào. Nay dẫu đã xuân qua ba tàn, hồng nhan đục vô bụi… hay đã thành cát bụi – nhưng nhờ trời, cái gien vẫn có thể lưu truyền lại cho lớp con cháu đời sau. Cách đây ba mươi năm, các cô Hoàng Đoan Nhuận (con ông Hoàng Ngọc Viên), Hoàng Thị Kim Oanh (con ông Hoàng Hữu Đản) đều thuộc loại ngôi sao lấp lánh. Hai chị em Hoàng Thị Hoàng Yến, Hoàng Anh con ông Hoàng Hữu Quyến từng nổi tiếng là hoa khôi ở Quảng Ngãi. Hoàng Thanh Trang, Hoàng Bích Hoài Anh, Hoàng Dạ Thi đáng kể là những trang tài sắc. Hiện nay một đợt sóng mới ở trong và nhất là ngoài nước thuộc các lứa tuổi từ 15-20 với nhiều đại biểu không thua kém ai.
Vừa qua Nếp Nhà đã có ý định mở cuộc thi hoa hậu họ Hoàng nhưng vì thời gian cấp bách, nhất thời chưa kịp vận động để bà con tham dự. Đúng ra chỉ là cuộc thi “ăn ảnh”. Bất cứ lứa tuổi nào, thậm chí cả những người đã qua đời – nếu còn để lại những tấm ảnh đẹp đều nên tham gia để tạo được ấn tượng đẹp cho phụ nữ họ Hoàng.
Hồi trước ở làng Bích Khê có ông Trùm Nậy (Hoàng Nậy – đời 13) thường nói:
“Trai họ Hoàng không màng chi vợ. Gái họ Hoàng lỡ chợ cũng có chồng”.
Câu nói đó không phải là quá đáng. Thực sự phụ nữ họ Hoàng kể chung các mặt công dung ngôn hạnh đều đáng được danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao”.
HIẾU PHỦ
Bài 16
MỘT TRÁI TIM CỦA BÍCH KHÊ

Bà BÍCH HÀ
Viết để kính dâng hương hồn mẹ tôi là bà Hoàng Thị Bích Hà (Đ.14) Con gái ngài Thái Thường Tự Khanh Hoàng Hữu Bỉnh. Chánh thất của ông Đoàn Từ, người thôn Đầu Kênh – Triệu Phong – Quảng Trị.
Sau cơn lũ lụt, hôm nay trời quang mây tạnh hơn, nhưng nước sông vẫn còn dâng cao. Vài chục người đi buôn đã bỏ lại hàng hóa của họ trên những chiếc xe chở hàng miền Trung, cùng xuống một con đò để qua bên kia bờ, hầu tiếp tục đi về bằng nhiều phương tiện khác, chờ khi nước rút, đường sá hết ngập lụt, hàng hóa của khách đều được các chủ xe chở về đến thành phố cho họ.
Chiếc đò vừa xô ra khỏi bến, hai thanh niên lực lưỡng cầm vững tay chèo băng ngang qua con sông rộng. Khi đến giữa dòng sông, bỗng trời nổi cơn gió lớn, nước sông chảy xiết hơn đã làm cho con đò bị cuốn theo dòng nước lũ.
Một cột buồm thật cao, thật rắn chắc đã dựng sẵn giữa con đò, tuy buồm không giăng mà con đò như bay trên mặt nước. Mọi người trên đò đều la thất thanh khi thấy đằng xa có một cây cầu bắt ngang sông đã gãy, hết thảy cùng lo sợ bảo nhau rằng: “Đò chúng ta sẽ bị nhận chìm khi cột buồm gạt vào chiếc cầu kia”. Con đò trôi nhanh quá, không còn thời gian để phá bỏ chiếc cột buồm được nữa. Người niệm Phật, kẻ cầu Chúa rân vang lên cả con đò. Nàng, một thiếu phụ trên đò có đôi mắt thật buồn, miệng niệm Phật nho nhỏ, bình tĩnh mở ví lấy tấm căn cước tùy thân cột vào chéo vạt áo dài cùa mình thật kỷ. Nàng thầm nghĩ chốc nữa đây nếu không may nhỡ bị chết khi thuyền đắm, người ta còn biết nàng là ai và để cho con nàng nhận diện. Trí nàng lướt nhanh qua hình ảnh thân yêu của các con nàng. Nàng định thần và cố hình dung ra khuôn mặt của từng đứa một. Hai hàng nước mắt nóng hổi lăn dài trên đôi má.
Con đò cuốn theo dòng nước càng lúc càng nhanh. Khi cột buồm sắp chạm vào thân cầu, mọi người ôm chặt lấy nhau, nhắm mắt, chờ đợi, miệng không ngớt cầu kinh. Bỗng một tiếng rắc thật lớn, khô khan vang lên, con đò tròng trành, nghiêng hẳng về một bên, gần như muốn trút cả đám người xuống dòng sông đục ngầu. Cột buồm gãy và con đò chui qua được gầm cầu. Tất cả đều thở phào ra nhẹ nhõm. Không ai bảo ai, mọi người đều chắp hai tay ngang trán, mắt ngước nhìn Trời và những câu kinh lại vang rền thêm lần nữa giữa không gian mênh mông. Vài người mừng quá đã òa lên khóc khi thấy mình vừa thoát nạn. Sau đó gió nước lặng êm dần, cuối cùng con đò vẫn tấp qua được bên kia bờ, nhưng đã cách xa bến định đỗ vài dặm.
Đây là một trong những nhiều chuyện thương tâm của thiếu phụ nói trên và đó cũng chính là Mẹ tôi trong suốt những năm dài đã lặn lội tảo tần để đem lại sự sống cho chị em chúng tôi nơi quê hương miền Trung nước Việt.
Lạy Mẹ, hôm nay con xin phép được viết vài nét về Mẹ, người đàn bà kỳ diệu, không những chỉ của riêng con, của đại gia đình hay bà con thân thích, bạn bè của Mẹ, mà còn là của tất cả những ai đã biết đến Mẹ.
Con chưa từng viết bao giờ, thế nhưng điều mong ước duy nhất của con vẫn là được viết về Mẹ đôi điều.
Tuy sinh ra và lớn lên trong một gia đình khoa bảng quyền quý, Mẹ tôi đã sống hòa mình với những người nông dân chân lấm tay bùn nên bà đã biết tất cả công việc đồng áng như người dân quê.
Theo chồng khi vừa mười sáu trăng tròn. Mẹ tôi về làm dâu được bà nội tôi yêu quý. Bà nội tôi thương Mẹ tôi không khác gì thương các cháu nội nhỏ của bà. Nhất nhất có chút gì nội tôi cũng cất lại dành cho Mẹ tôi cả. Cha tôi đi làm xa nên nội tôi càng cưng quý Mẹ tôi hơn.
Tôi còn nhớ năm tôi lên mười ba, ngày đưa đám nội tôi ra nghĩa trang, Mẹ tôi đã chết ngất cạnh nấm mồ bà. Các cô bác tôi đã đổ nước lạnh vào đầu, vào người Mẹ tôi giữa trưa hè nắng gắt. Chị em tôi lại một phen khiếp sợ. Hôm đó chị tôi đội nón rơm, chống gậy vông thay cha tôi để đưa đám bà nội. Cha tôi lúc bấy giờ đang ở Liên khu V, không về được.
Mẹ tôi rất thông minh. Bà học quốc ngữ và về sau còn học thêm Pháp văn do cha tôi dạy để dùng trong lúc buôn bán. Đôi khi bà cũng đấu cờ tướng và chơi bóng bàn với cha tôi. Bà còn biết đàn nguyệt và đi ngựa giỏi nữa. Có một dạo Mẹ tôi phải thường xuyên dùng ngựa để đi thăm cha tôi khi ông làm tại bệnh viện Trà Kê, một vùng rừng núi hiểm trở, hẻo lánh.
Ngoại tôi kể lúc Mẹ tôi lên mười bốn, một hôm trong xóm có hỏa hoạn, Mẹ tôi hai tay xách hai thùng nước, phóng nhanh lên mái nhà bằng một cái thang tre thật là phi thường, và tiếp tục xách lên nhiều bận như thế cho đến khi bà đã dập tắt được ngọn lửa đang phủ lên gian nhà lá của người láng giềng nghèo.
Có lần Mẹ tôi cùng vài người làm công đi cắt rau, lúc gánh ra khỏi vườn, Mẹ tôi thấy một đoàn người đói rách dắt nhau đi, động lòng bà đem cho họ hết, rồi trở lại vườn cắt thêm nhiều gánh nữa để cho những đám người khác đang lang thang trên đường đất, mãi cho đến khi trời tối mịt không còn người nào trên con lộ nữa.
Chứng kiến vô số cảnh đói nghèo. Mẹ tôi càng quan tâm đến những người cùng cực. Nhiều lần bà đã làm ngơ khi bắt gặp những người làm công cho ngoại tôi cất dấu những túi gạo, túi đậu dưới hàng rào dâm bụt, để chiều tối lén mang về cho gia đình. Về sau họ hiểu được và tìm đến gặp riêng Mẹ tôi để xin lỗi và hứa sẽ không tham lam nữa.
Cũng theo lời ngoại tôi, một hôm Mẹ tôi đi xem hội Tây có rất nhiều trò chơi, nhưng trò chơi làm cho Mẹ tôi bất mãn nhất là trò leo cột mỡ. Người ta dựng lên những cột cao, bôi mỡ thật trơn và treo tiền trên chóp cột. Ai trèo lên được thì lấy. Vài người nông dân nghèo cố trèo lên may ra lấy được tiền, nhưng trèo lên được nửa cột thì bị tuột dài xuống. Mấy ông Tây bà đầm ngồi xem vỗ tay, reo cười, la ó thích thú. Mẹ tôi thấy tội nghiệp cho dân nghèo mình và cảm thấy nhục chung cho dân Việt nữa. Giữa cuộc chơi, Mẹ tôi đã bỏ ra về. Ngoại kể tiếp lần đó Mẹ tôi khóc ức lên và thề không bao giờ đi xem những ngày hội như thế nữa. Lớn lên Mẹ tôi càng ghét mấy người Pháp mật thám, thuế quan, khi thấy họ lục soát, bắt bớ dân Việt và tinh thần chống thực dân Pháp được hun đúc từ đó.
Nghe tin quân Pháp đổ bộ vào thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên, Mẹ tôi quyết định đem chúng tôi đi tản cư để tránh những tai họa có thể xảy đến, nhất là cho đàn bà, con gái. Cùng đi với chúng tôi, có dì em Mẹ tôi, suýt soát tuổi tôi, có anh chị con bác tôi và các cháu nhỏ.
Ra đến Gia Linh rồi đến Vĩnh Linh, cuối cùng gia đình tôi dừng chân tại làng Nhĩ Trung, phủ Vĩnh Linh. Sau đó, Mẹ tôi tìm cách liên lạc với Ủy ban Kháng chiến để nhờ họ giúp đỡ nơi ăn chốn ở. Có gia đình tốt bụng đã nhường hẳn cho chúng tôi một căn nhà rộng rãi. Lúc đi, Mẹ tôi đã mang theo đầy đủ dụng cụ của một xưởng thuốc lá nhỏ. Tất cả đều làm bằng tay. Và Mẹ tôi nhận cung cấp thuốc lá cho bộ đội Việt Minh qua Ủy Ban Kháng chiến.
Vào tuần lễ thứ hai, chúng tôi bắt đầu làm việc. Người lớn lăn, cắt, tẩm và sao thuốc lá. Chúng tôi vấn thuốc, cắt những sợi thuốc thừa ở hai đầu điếu, đóng gói. Tôi còn nhớ như in bao thuốc lá mang nhãn hiệu “Quyết thắng”, ngoài bao có hình anh Vệ quốc quân ôm súng nhắm vào địch, phía bên kia, hình một điếu thuốc đang cháy dỡ với khói bay lên. Tất cả đều do sáng kiến của Mẹ tôi.
Chúng tôi làm việc bốn giờ một ngày, thời gian còn lại dành để tắm, giặt, chợ búa, cơm nước. Mỗi Chủ nhật, Ủy Ban Kháng chiến mang tiền đến nhận thuốc. Và hàng tuần chúng tôi cùng nhau đi chơi ngoài trời trọn ngày thứ Năm.
Nhĩ Trung đẹp làm sao! Cát trắng xóa. Nhiều con lạch nước trong veo chảy bất tận. Có những đồi cát trắng như bông. Chúng tôi leo lên đỉnh đồi, rồi đua nhau lăn xuống chân đồi, ai đến đích trước thì thắng cuộc. Lần nào dì tôi và tôi cũng là kẻ thắng. Thế là cát vào đầy tóc, đầy miệng, đầy tai, vui quá nên quên hẳn cảnh chạy giặc.
Ở đây, người ta không cần đèn; vừa tắt nắng đã lên giường ngủ. Mọi người đều ăn cơm tối vào lúc nửa chiều. Có những bữa cơm chiều, gia đình tôi quây quần quanh một cái nốn đại (nia lớn) đặt giữa sân, vừa ăn vừa kể chuyện vui như Tết.
Nhưng cuộc vui nào rồi cũng tàn. Có tin quân Pháp sẽ đổ bộ lên Cửa Tùng trong vài ngày tới. Ủy Ban Kháng chiến đến hỏi chúng tôi muốn tiếp tục di tản hoặc muốn hồi cư, họ sẽ giúp đỡ phương tiện. Mẹ tôi quyết định trở về.
Trong thời gian lánh nạn, Mẹ tôi vẫn tạo cho chúng tôi công việc hàng ngày, sinh hoạt bình thường, sống vui và còn khỏi tiêu thâm vào túi tiền mang theo. Nhờ óc tổ chức, tính năng động, Mẹ tôi đã cho chúng tôi những tháng ngày tản cư đầy lý thú. Đó là một trong muôn vàn chuyện về Mẹ tôi mà suốt đời tôi hằng khâm phục.
Vào năm 1947, Mẹ tôi cùng gia đình trở về thành phố Quảng Trị sau một cuộc tản cư dài nhiều tháng. Bà mở một quán rượu bán cho quân nhân Pháp lấy tên là “Bar Majestiic” để làm nơi hoạt động bí mật cho tình báo Việt Minh. Bí danh của bà là Lệ Hoa. Các cậu và chị tôi đều có bí danh cả. Ngoài ra, còn có thêm công tác chiêu dụ một toán Lê dương (người Đức đi lính cho Pháp) đào ngũ quay về với Việt Minh. Ngay đêm đó, trước khi toán Lê dương đến điểm hẹn tại Ái Tử để được bộ đội Việt Minh đón đi, bất ngờ một tên Lê dương phản trắc, nên cuộc địch vận bị bại lộ. Mẹ tôi, các cậu và chị tôi bị Phòng Nhì Pháp còng tay giữa thành phố và tống giam tại nhà lao Vườn Bông Quảng Trị, rồi chuyển vào nhà lao Thừa phủ Huế. Hai cậu tôi bị đưa ra Tòa án Quân sự Tourane (Đà Nẵng ngày nay), mỗi người lãnh án ba năm tù ở. Gia tài bị tịch thu. Cơ nghiệp của Mẹ tôi gầy dựng mấy chục năm qua bỗng chốc tan thành mây khói. Ra tù với hai bàn tay trắng, Mẹ tôi còn nuôi mẹ già, con dại và thăm nuôi hai em trong tù. Trong thời gian này, cha tôi đang phục vụ cho kháng chiến tại Liên khu V. Đọc đến đây những ai hoạt động cho kháng chiến trong khu vực Quảng Trị thời đó, chắc hẳn còn nhớ đến tổ tình báo của Lệ Hoa.
Cuộc kháng chiến vẫn tiếp diễn, và Mẹ tôi đã đi vào thiên thu cuối mùa đông năm 1973, sau hai tuần vì bệnh tim mạch. Mẹ tôi là người đàn bà năng động, đầy lòng nhân, can đảm, yêu nước và giàu nghị lực.
Trước chiến tranh, mặc dầu là vợ công chức nhưng bà chẳng chịu ngồi yên để thụ hưởng. Bà buôn bán không ngưng nghỉ, nên chị em chúng tôi có được một đời sống khá đầy đủ, sung túc. Cá tính của bà là cho, tặng. Ruột thịt cũng cho, không ruột thịt cũng cho. Có nhiều cho nhiều, có ít cho ít, không có để cho thì đón về nhà cùng chia cơm xẻ áo. Khi cho, bà không phân biệt đối tượng.
Mẹ tôi thường dạy chúng tôi: “Đối với những người bất hạnh, an ủi tinh thần thôi vẫn chưa đủ mà cần giúp đỡ về vật chất nữa. Hãy mang lại niềm vui cho kẻ khác cho dù niềm vui rất nhỏ”. Đó là những gì Mẹ tôi muốn chúng tôi kế thừa.
Mùa xuân năm 1972, trong chuyến về thăm quê hương Quảng Trị, Mẹ tôi đã để lại nhiều kỷ niệm đầy ân tình nơi đó. Bây giờ bà con nội ngoại tôi vẫn nhắc đến Mẹ tôi mỗi khi gặp chúng tôi.
Mẹ tôi cũng lắm phen làm ăn thất bại vì cả tin tha nhân. Vào cuối thập niên 50, thỉnh thoảng tôi mang con về thăm gia đình. Lần đó, tôi thấy Mẹ tôi phiền muộn và bực bội không ít do sự bê trễ tiền bạc của khách hàng. Tôi nói: “Hằng năm về thăm Mẹ, con đều thấy Mẹ khổ sở vì bà khách hàng này. Nếu họ không đứng đắn trong giao ước tiền bạc thì Mẹ đừng bán hàng cho họ nữa có hơn không. Con thấy Mẹ khổ quá, một toa hàng văn phòng phẩm lời được bao nhiêu mà tội nghiệp Mẹ quá vậy”. Mẹ tôi đáp: “Ở Qui Nhơn này không còn một ai bán thiếu cho bà ta nữa, nếu Mẹ cũng không bán thì mười ba đứa con của bà ta chết đói”. Nghe vậy, tôi thấy hỗ thẹn với Mẹ tôi. Sao Mẹ mình sợ thiên hạ chết đói mà mình lại không, và cũng nhờ đó tôi càng thấy rõ lòng vị tha của Mẹ tôi hơn. Về sau, bà ấy thành công lớn ở thành phố này. Ngày Mẹ tôi mất, bà ta đến phúng viếng và đã khóc nức nở.
Lạy Mẹ, nếu viết về Mẹ thì con vẫn mang một tội thật lớn với Mẹ là viết thiếu sót rất nhiều. Trên đây, con chỉ góp nhặt vài mẫu chuyện từ ngoại, các cậu, Mẹ và những gì con đã biết từ khi thơ ấu cho đến lúc lớn khôn được sống cạnh Mẹ để thỏa mãn phần nào lòng con mà thôi. Các cậu mợ, các dì của con và các bác nối khố của Mẹ thường nói Mẹ là con người siêu phàm.
Mẹ ơi! Con xin nhắc thầm Mẹ một kỷ niệm nhỏ của con Mẹ nghe. Lúc Đệ nhị Thế chiến chưa chấm dứt, Mẹ đem chúng con về sống với bà nội tại Đâu Kênh, Quảng Trị, để tránh bom đạn. Con còn nhớ một hôm con đã hét ré lên và chạy ngược lại gian nhà ngang đến úp mặt vào hai đùi trần mát rượi của Mẹ, lúc Mẹ đang ngồi nghỉ tay khi vừa giã xong cối gạo. Mẹ phải xắn gọn quần lên để làm việc. Hai tay Mẹ ôm đầu con, mặt Mẹ cúi thấy xuống trấn an con: “Hú ba hồn chín vía con tôi! Cái gì thế? Cái gì làm cho con khiếp vậy?” Mẹ nhớ không? Hôm đó con đi lấy cho Mẹ bát nước chè đằng cuối gian nhà tối om, con thấy hai chấm thật sáng chiếu thẳng vào con trong đêm tối, khiếp quá con đã vứt cái bát nước mà chạy lại ôm chầm lấy Mẹ. Sau đó, Mẹ mang cây đèn dầu đến rọi thì ra một chú mèo đen đang ngồi trong góc nhìn ra. Từ đó, con sợ mèo và không còn thích chơi với mèo nữa.
Mẹ ơi, lòng Mẹ bao la quá, dạt dào quá. Mẹ đã cho chúng con hình hài và còn cho chúng con chiêm ngưỡng một kỳ quan tuyệt diệu của nhân loại. Đó là trái tim của Mẹ. Trái tim của Mẹ cũng là bức thành kiên cố nhất đã bảo vệ đời sống chúng con từ khi mới lọt lòng.
Chúng con thật diễm phúc được làm con của Mẹ
ĐOẠN THỊ BẠCH YẾN (Hoa Kỳ)
Bài 17
MẸ TÔI LÀ CON GÁI HỌ HOÀNG
Xuất thân trong một gia đình nho giáo quan lại thuộc làng Bích Khê, mẹ tôi về làm dâu tại làng Quảng Lượng, trong một gia đình mà thân phụ của chồng vốn là một môn sinh của thân phụ mình. (Ông ngoại tôi là Hoàng Hữu Quản, đậu phó bảng năm Thành Thái thứ bảy, dạy trường Quốc Tử Giám và sau đó làm Đốc học tỉnh Quảng Trị)
Mẹ tôi đã khóc rất nhiều trong ngày lên xe hoa về nhà chồng bởi lẽ đó là một đám cưới chạy tang. Bà nội tôi qua đời chưa được mai táng thì mẹ tôi được rước về để được ông nội tôi trao cho một vuông vải điều để đắp mặt cho mẹ chồng rồi sau đó đã được ông nội tôi giao cho trọng trách cai quản, trông nom gia đình nhà chồng.
Ông nội tôi sinh hạ được 6 người con (5 trai và 1 gái) và mẹ tôi đã trở thành dâu trưởng sau khi bác tôi ra đi trước bà nội tôi một tháng và một thời gian sau bác gái tôi xin phép ông nội cho bước thêm bước nữa. Từ đó, mẹ tôi phải gồng gánh mọi công việc trong gia đình nhà chồng. Tôi còn nhớ rõ: ông nội tôi rất nể phục con dâu trưởng của mình và mọi sự tranh chấp giữa các bà thím của tôi đều được ông nội tôi giao cho mẹ tôi trọng trách đứng ra hòa giải.
Vốn là một con người làu thông kinh sử (mẹ tôi thuộc lòng Kim Vân Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Lục Vân Tiên, Gia Huấn Ca, Nhị Thập Tứ Hiếu, Nhị Độ Mai và cả Trê Cóc, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ nữa) nên những lý lẽ của mẹ tôi và rốt cuộc họ phải nghe theo lời khuyên giải hợp lý tình, hợp lý của bà chị dâu trưởng lịch lãm, đáng kính đáng mến của họ.
Bốn anh em chúng tôi sinh ra trong thời tao loạn nhưng đã được ba mẹ chúng tôi bảo bọc, nuôi dưỡng và dạy dỗ thật chu đáo. Chúng tôi được sống trong tình yêu thương chan hòa của mẹ và trong sự săn sóc ân cần của cha. Đặc biệt chúng tôi đã được mẹ bảo bọc, yêu thương từ lúc còn non dại cho đến lúc trưởng thành! Ôi tình mẫu tử ấy thật bao la vô bờ bến!
Hồi ấy, ba tôi là một chuyên viên của Ty Công Chánh Đà Nẵng (dessinateur opérateur: chuyên viên trắc đạc hội họa). Sau một cuộc cải vã kịch liệt với một ông chủ người Pháp. Ba tôi xin nghỉ việc và dắt díu vợ con về quê nội và với số tiền tích lũy. Ba mẹ tôi đã tậu được một ít ruộng ở làng và chính nhờ sự cần cù, chắt chiu, chịu thương chịu khó, một nắng hai sương của mẹ tôi mà gia tài, cơ ngơi của ba mẹ tôi ngày càng được mở mang phát triển.
Mẹ tôi còn là một phụ nữ rất giỏi về nữ công gia chánh nữa. Tài làm mắm cá, mắm cà, mắm chên (Chên là một loại cây rau dền để cho mọc cao hơn một thước rồi lấy thân gọt vỏ, cắt thành từng đốt ngắn, đem phơi hơi héo rồi trộn chung với mắm) và làm nước mắm từ những con đam (1 loại cua đồng) của mẹ tôi nổi tiếng khắp cả làng. Những người dân làng, cứ đến thời vụ, rất mong được kêu đi gặt mướn để được thưởng thức những món đặc sản đồng quê do chính tay mẹ tôi chế biến.
Trong số bà con thân thích phía mẹ tôi hồi đó là Ông Huyện (ông Huyện Kiệt – thân phụ của Dì Tâm, Dì Hương) và ông Hường (ông Hường Quỵ – ông nội của Hoàng Phủ Ngọc Tường). Ông Huyện và ông Hường, thường về đánh bài tứ sắc và xướng họa thơ văn với ông nội tôi và đã được ba mẹ tôi phục vụ thật chu đáo tận tình. Nhưng những người được mẹ tôi đặc biệt quí mến, yêu thương đó là Dì Phủ và Cậu mợ Ấm tôi. Tôi làm sao quên được cứ vài ba tuần khi thì Dì Phủ, mợ Ấm. Khi thì cậu Ấm tôi về chơi và ở lại với ba mẹ tôi cũng không quên biếu Dì, Cậu, Mợ tôi một ít tiền lộ phí. Hình ảnh một ông cậu nghiêm nghị, sáng nào cũng ngồi bên tách trà Huế bốc khói thơm phức và hình ảnh một bà Dì đầu hớt ngắn, trong tay luôn cầm chiếc quạt khó mà phai nhòa trong ký ức tôi được. Thú thật gia đình bên ngoại tôi đã lưu lại nơi tôi nhiều cảm tình, hình ảnh thiêng liêng trong sáng hơn gia đình bên nội tôi nhiều.
Mẹ tôi còn là người có một trí nhớ thật tuyệt vời. Tất cả ngày sinh tháng đẻ của con cháu nội ngoại, những chuyện xưa, tích cũ ai cần tham vấn, cứ đến, mẹ tôi sẵn sàng cung cấp thật đầy đủ và thật chính xác. Tôi còn nhớ năm giỗ chú Hoàng Hữu Đường, tôi chép tay bài thơ của chú Hoàng Hữu Pha khóc em về đọc cho mẹ tôi nghe, thế là hôm sau mẹ tôi đã đọc thuộc lòng được bài thơ ấy.
Sinh thời ba tôi rất tự hào đã được làm con rễ trong gia đình Hoàng tộc – một dòng họ nổi tiếng về khoa bảng. Các ông chú của tôi thường ganh tị với ba tôi: “Các đứa con của bác, nhờ thiên tích thông minh của bác gái mà đỗ đạt nên người”. Để đáp lại ơn sủng ấy. Ba tôi đã không từ chối bất kỳ công việc gì mà bên ngoại tôi nhờ đến: như tu sửa lại lăng mộ, xây dựng nhà thờ họ Hoàng tại làng Bích Khê và thu nạp những bà con bên ngoại vào làm việc với mình.
Giờ đây mẹ tôi đã 95 tuổi. Với tuổi đời chồng chất cùng với những lao nhọc, lo lắng cho con cháu trong những năm tháng vừa qua đã làm cho sức khỏe của mẹ tôi giảm sút đi nhiều. Để đền đáp lại công ơn dưỡng dục của mẹ, tất cả anh em, con cháu nội ngoại chúng tôi đều ra sức săn sóc mẹ, bà nội, bà ngoại chúng tôi thật chu đáo, mong sao cho mẹ chúng tôi, bà nội và bà ngoại chúng tôi thọ trên 100 tuổi.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ thăm bà HOÀNG THỊ THÙ
1.12.2000
TRẦN VĂN DIỆM
Bài 18
BÁNH ĐÀO TIÊN CỦA MẸ TÔI

Bà NGUYỄN THỊ THANH
.Hai tay nâng quả đào tiên
Của Tây Vương Mẫu mừng duyên vợ chồng
Thỏa lời nguyện ước non sông
Trăm năm Loan Phượng tơ hồng đẹp đôi.
Đó là 4 câu thơ của ba tôi ngẫu hứng đọc tặng mẹ tôi khi bà đưa cho ông một quả đào tiên đỏ ối, lá xanh mơn mởn đẹp vô cùng… Thế là bao nhiêu vất vả mệt nhọc để nắn từng quả đào đều biến mất, mẹ tôi cườisung sướng hãnh diện, nét mặt rạng rỡ vì hạnh phúc.
Mẹ tôi cực lắm, cực đáo để! Từ một cô giáo dạy nữ công ở học Hội Huế, vì thời cuộc, theo ba tôi đưa các con lên khe Bội làm rẫy, sau đó trở về làng Bích Khê của chồng buôn bán… rồi lại quay về Huế… Cứ thế, mẹ tôi nuôi bốn chị em tôi bằng nghề sở trường: làm các loại bánh bán. Ai đặt chi cũng làm, đám kỵ đám giỗ, đám cưới, đâu đâu cũng mời, cũng nhờ thím ấm Dực.
Mẹ tôi chịu thương, chịu khó, lại rất thông minh và khéo tay, nên bất cứ món chi mẹ tôi làm ra đều vừa ngon vừa đẹp.
Đào Tiên! Đó cũng chỉ là một thứ bánh ngọt làm bằng đậu xanh nguyên chất, ăn vào ngọt lịm lại thơm phức nhờ chút vani và nho khô làm hạt quả đào! Khi đậu xanh nấu hình quả đào đã khô lại, đem nhúng vào đông sương pha màu đỏ sẫm, thêm vài cọng lá đào tươi vào cuống, quả đào láng bóng, y như đào thật, đẹp lắm.
Cái khó là phải nắn bột cho thật giống quả đào, mà mẹ tôi thì thật tuyệt vời. Mẹ tôi không có đôi bàn tay mềm mại, kiêu sa, mà những quả đào mẹ nắn ra thì thật là ngon lành tinh khiết! Có lẽ vì thế mà móm bánh đào tươi gần như độc quyền của mẹ.
Dâu họ Hoàng thật là đảm đang khéo léo, mỗi người có một tay nghề đặc biệt. Bác Gái Ấm Cảnh nổi tiếng về nem và chả cứ giòn tan và thơm phức! Chị Trợ Dai thì đổ bánh thuẩn nở đẹp như những chậu hoa xuân.
Còn mẹ tôi thì bánh Đào Tiên là số một! Ba tôi thích lắm luôn luôn xưng tụng Đào Tiên này là của Tây Vương Mẫu, vừa quí hiếm, vừa bất tử, ăn vào sẽ trẻ mãi không già… Cho nên hễ ai mừng thọ, ai cưới xin điều đặt mẹ tôi làm bánh trái Đào Tiên và… xin ba tôi ít câu thơ thêm thú vị…
– Ba tôi, không hề có tư duy kinh tế nên đã không thể đem lại cho mẹ con tôi cuộc sống giàu sang, nhưng ba tôi là một thi sĩ, tấm lòng thật bát ngát vị tha… thương vợ thương con và thủy chung son sắt. Biết mẹ tôi cực khổ nhọc nhằn, ba tôi thương lắm mà không sao phụ giúp, chỉ biết đêm đêm thức cùng mẹ, thơ thẩn bên bếp lửa, khi thì hỏi han, lúc thì khen bánh làm đẹp ăn thử khen ngon đáo để. Có lúc lại bắt mẹ tôi nghỉ tay để nghe mấy câu thơ vừa sáng tác! Ấy thế mà mầu nhiệm vô cùng, cơn buồn ngủ tan mất, mắt mẹ tôi sáng rỡ, má hồng lên không biết vì nám lửa hay sung sướng…
Ba tôi hay nói: – Mẹ Mừng (tiếng gọi mẹ tôi lúc thân mật) khéo tay như thế, biết sau này con gái, con dâu mình có nối được nghiệp hay lại bị thất truyền!
Ba Mạ ơi, con gái của Ba Mạ vụng về, không giỏi giang khéo léo như Mạ, nhưng vì thương ba, thương Mạ, hai chị em con đều giữ được nghề riêng, để khi nắm trái Đào lại thấy Ba Mạ về đứng bên khen đẹp!
Đào Tiên! Cái tên mang ý nghĩa sâu sắc mà còn nặng tình nặng nghĩa… Làm bánh Đào Tiên không có khuôn mà chỉ có đôi bàn tay của người mẹ với một trái tim yêu thương thì nắn quả Đào Tiên đẹp vô cùng…
Vậy, bà con xa gần, đám cưới đám xin, lễ thọ tiệc mừng, xin đặt bánh tại cửa hàng cô giáo Lam, cô giáo Thương là có ngay! Có ngay!
HOÀNG THỊ NGỌC LAM

Bài 19
HỌ HOÀNG
CÓ NHỮNG NÀNG DÂU TUYỆT VỜI
Thử nhìn lại lịch sử phát triển của làng Bích Khê ta với hơn 500 năm kể từ 3 ngài Thượng Thỉ Tổ của 3 họ Hoàng Lê Đỗ từ miền Bắc theo chân chúa Nguyễn vào đất Quảng Trị khai hoang dựng nghiệp cho đến nay đã
trải gần 20 thế hệ con cháu kế truyền, hầu như trên cả chục đời tổ tiên về
trước đều lấy Nông làm gốc. Riêng họ Hoàng, phải đợi đến đời thứ 11 dòng họ mới có được một bà dâu quí dám khai phóng tư duy, vượt lên tập quán an phận thủ thường của phần đông nữ giới VN thời ấy để tiếp cận với chữ nghĩa sách vở, nuôi một hoài bão lớn lao, mong sao cho con cháu mai sau được đổi đời” để chúng không phải như cha ông chúng cứ lận đận vất vả mãi trong cái nghiệp “con trâu đi trước cái cày đi sau” – Ngọn đuốc sáng ấy chính là cụ bà Đỗ Thị Thừa – phu nhân của ngài Hoàng Hữu Tư, tổ chi nhất chúng ta. Bà là con gái của Hậu trung quân đồn phó vệ úy Cẩn Ngọc Hầu Đỗ Ngọc Cẩn, người cùng làng.
Theo gia phổ dòng họ, trong phần hành trạng của bà, cụ Hiệp Biện là người biên tập gia phổ đã giới thiệu khái quát, nhưng rất chân trọng về bà nội mình như sau:
“Tánh bà rất nghiêm cẩn. 30 tuổi đã góa bụa. Có nhiều nơi “đánh tiếng”, bà thề thủ tiết thờ chồng nuôi con. Cho con đi học, thầy xin gì cũng không tiếc; nhất là thấy sách vở, tuy chẳng biết là sách vở gì, nhưng đắt mấy cũng mua. Bà rất chỉnh đốn: nhà cất ngay ngắn chính giữa vườn, có thầy địa lý bàn với các ông con nên xoay hướng lại cho được “nạp tài”, nhưng bà bảo với các con rằng: “nếu giàu mà nhà cửa không ngay ngắn ta cũng không muốn. Nghèo mà ngay thẳng ta vẫn vui thích hơn.” Các con (đây là nói 2 ngài Hữu Lợi và Hữu Oai đời 12) đều vâng theo nghiêm huấn của bà không bàn tới việc góp ý của thầy địa lý nữa. Lúc bà mất, có quan giáo thọ ở phủ là Trịnh Tiên sinh đã truy tặng bà mấy chữ “Thụy Trinh Mẫn” (có nghĩa là một phụ nữ “tiết hạnh và sáng suốt”).
Rất tiếc là bà dâu hiền người họ Đỗ của họ Hoàng chúng ta đã không sống được thêm 5, 7 năm sau để chứng kiến ước mơ của mình thành hiện thực.
Người phụ nữ hiền đức thứ hai được ghi nhận trong gia phổ là bà Lê Thị Hơn, phối thất của ngài Hoàng Hữu Lợi (đời 12). Bà là con thứ hai của ông Lê Quế, làng Cổ Thành – Triệu Phong. Sinh ngày 16-6 Canh Ngọ (1810) đời Gia Long, mất ngày 24-7 năm Bính Tuất (1886) đời Thành Thái. Mộ tại làng Vinh Quang, Gio Linh.
Bà thông nho học, về nhà chồng năm 20 tuổi. Tính tình chất phác, siêng năng, hay giúp đỡ kẻ nghèo khổ. Nhà tuy không dư dật nhưng mọi việc phục vụ chồng con đều rất chu tất. Chồng lâm bịnh phong thấp 3 năm liền không đi đứng được, ngày đêm tận tụy bên giường bệnh cho đến khi chồng bình phục, không hề than van mệt mỏi. Khi con là Hữu Xứng ra làm quan bà cũng không tỏ ra tự tôn, kiêu hãnh. Hễ thấy học trò nghèo hoặc nhân sĩ thì trọng đãi. Lúc về già lại mộ đạo tu hành. Bà được phong Nhị phẩm đoan nhân.
Tiếp theo là bà Nguyễn Thị Sanh – tôn nữ hệ 7. Con gái thứ tư của ngài Tôn Thất Tự, phó lãnh binh tỉnh Nam Định, làng Hương Cần, Thừa Thiên Huế là phối thất của ngài Hoàng Hữu Xứng.Sinh 26/6. Giáp Ngọ (1834) đời Minh MạngMất 29/6. Ất Mão (1915) đời Duy Tân mộ tại Nương Âm, có lăng bia.
Phu nhân cành vàng lá ngọc, về nhà chồng năm 21 tuổi. Tuy chồng làm quan nhưng gia cảnh vẫn thanh bần. Bà phải đảm đang cả những việc nặng nhọc như gánh nước, hái rau, giã gạo, vẫn vui tươi khả ái. Trên thờ phụng gia nương, dưới nghiêm huấn con cái. Chồng làm quan lớn nhưng bà không chút lên mặt. Đối với các vợ sau của chồng, vẫn khoan hòa đoàn kết, không hề ghen tuông. Đối với con ghẻ rất hiếm có. Các ngài Hữu Kiệt, Hữu Tiêu mồ côi mẹ lúc còn măng sữa. Một tay phu nhân chăm lo nuôi dạy, thương như con đẻ. Bà thọ được 82 tuổi, được phong Mạng Phụ Tùng Nhất Phẩm.
Người thứ tư là phối thất của ngài Hữu Kiểm (đời 14) tên là Lê Thị Dung. Sinh 25 – 8 – Giáp Tuất (1874) mất 28/11 giáp Thân (1944). Cáo tặng Thất Phẩm Phu Nhân, mộ tại Nương Âm (Bích Khê).
Phu nhân góa chồng năm 34 tuổi, ở vậy nuôi con. Trong những năm 1930 – 1944, phu nhân còn giúp cho các cơ sở Cách mạng bí mật làm việc trong nhà. Con cái đều tham gia cách mạng – đứng đầu là bà Hoàng Thị Ái thoát ly từ năm 1927. Các con trai là Hữu Xán, Hữu Thước, Thị Du đều là cán bộ kháng chiến chống Pháp. Lúc mất, bà con trong họ có tặng câu đối:
Khổ tiết trấp niên dư diệm đạo, ngô môn hữu liệt phụ. Hà linh thất dật ngoại, đải khan quí tử thành giai nhi.
(giữ tiết 30 năm, ai cũng khen nhà ta có nàng dâu hiền đức. Sống lâu ngoài bảy mươi, chờ xem con trai út nên người).
Người thứ năm là bà Võ Thị Thiêm. Sinh 28-2 Giáp Tý (1864) mất 10-8- Đinh Mão (1927) mộ tại Nương Âm.
Bà về làm dâu siêng năng cần kiệm, ăn ở nhân nhượng, bà con nội ngoại, hàng xóm láng giềng đều quí mến. Lúc mất, họ hàng tặng câu đối:
Trấp dư niên qui vu ngả môn, phụ đạo nữ công, tộc đảng độ côn vô gián ngữ. Lục tuần ngoại đăng thư lịnh thổ, phu quan tử ấu, tử sinh ly biệt bội quan hoài.
(Hai ba mươi năm về với nhà ta, phụ đạo nữ công, làng xóm bà con không nghị luận. Ngoài sáu mươi tuổi bước lên tịnh độ, chồng quan con dại, tử sinh ly biệt cảm bồi hồi).
Nói về các đời sau, đời nào cũng xuất hiện những nàng dâu hiền thảo, tuy gia phổ chưa kịp ghi chép những mỹ đức của họ nhưng bà con ai cũng thừa nhận.
Bà Nguyễn Thị Thanh, phối thất của ông Hoàng Phủ Dực (đời 15) là người vợ hiền, gặp người chồng có tánh ghen tuông vô lý, vẫn nghiến răng chịu đựng. Hai con trai thoát ly đi kháng chiến hoàn cảnh gieo neo vẫn tỉnh táo đối phó với mọi thử thách nghiệt ngã nhất. Bà là người nội trợ có đôi bàn tay vàng, làm được hàng chục thứ bánh; là đầu bếp giỏi có thể nấu được nhiều món ăn Tây, Tàu, chay, mặn nhưng tuyệt nhất là những món ăn Huế.Các nghề thêu,đan đều tinh xảo.
Bà Phan Thị Yến, phối thất của ông Hoàng Ngọc Viên rất coi trọng gia nương, có thể nhớ nằm lòng hầu hết những ngày kỵ giỗ quan trọng của các gia đình họ Hoàng.
Bà Nông Hét (Việt Kiều lâu năm ở Lào) phối thất của ông Hoàng Hữu Quyến (đời 16), sau năm 1975, chồng bị tai nạn qua đời. Bà can đảm chấp nhận gánh nặng con cái, lần lượt vượt mọi khó khăn, xây dựng các con nên người và thành gia thất.
Lê Thị Huyền Khánh, phối thất của ông Hoàng Hữu Thạnh (đời 16), lời ăn tiếng nói rất dịu ngọt, mà lòng dạ cũng thẳng thắn trung hậu… và còn nhiều tấm gương khác, rất đáng cho con em học tập.
Khoảng hơn 10 năm nay, xuất hiện 2 tấm gương phụ nữ hiền thục đảm đang,được bà con quí mến:
Bà Phạm Thị Mộng Hoa, vợ ông Hoàng Hữu Trung (đời 15), cử nhân Kinh tế, Phó giám đốc Ngân hàng. Làm thủ quỹ ngân sách họ Hoàng trong nhiều năm liền, chẳng những không thất thoát mà còn sinh lời hàng chục triệu.
Bà Phan Thị Cam – vợ ông Hoàng Hữu Chỉ (đời 16), cựu học sinh Đồng Khánh Huế, người làng Hà Mi, rất quán xuyến trong những công việc tổ chức kỵ giỗ lớn nhỏ trong gia đình và ngoài làng,họ.
Các gia đình họ Hoàng ta rất mang ơn những người mẹ, người vợ đã nêu cao những mỹ đức công dung ngôn hạnh của phụ nữ Việt Nam. Họ là những nàng dâu tuyệt vời.
HPNP.
