Văn Hóa Văn Nghệ

Bài 11 

  ÔNG HOÀNG HỮU HOÀI ( Đ.15)

VÀ BÀ BÍCH HÀ

     Ông HOÀNG HỮU HOÀI nguyên là cán bộ tập kết, du học ở Trung Quốc tại Đại học Bắc Kinh, tốt nghiệp Kỹ sư Công nghiệp Chế biến Gỗ. Ông có nhiều đóng góp trong công nghiệp gỗ dán, chế biến gỗ và đặc sản rừng và hạt điều. Đã đảm nhiệm các chức vụ: Giám đốc phân viện Nghiên cứu Lâm Đặc sản VN; Giảng viên Đại học Lâm Nghiệp, Phó Tổng Giám đốc Cty Lâm Đặc sản Xuất khẩu Việt Nam kiêm GĐ XN Lâm đặc sản 3, Nghiên cứu viên cao cấp… Được nhà nước phong tặng Huân chương Kháng Chiến hạng III; Bằng và Huy chương Lao động Sáng tạo; Huy chương bảo vệ và phát triển Rừng Việt Nam.

Trong gia tộc, ông và ái nữ là họa sĩ Hoàng Bích Hoài Anh cũng đã tích cực tham gia các kế hoạch lớn như tu chính Gia phổ, xây dựng, trùng tu từ đường, tổ chức lễ hội và di dời lăng mộ. Đặc biệt là công trình xây dựng khu lăng mộ khang trang của các tiền nhân thuộc dòng ngài Hoàng Hữu Tuệ (Đ.13) tọa lạc ở nghĩa trang của Đồng Hương Quảng Trị trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Phu nhân của ông là bà NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ, Bà tốt nghiệp Cử nhân ngành Tài chánh. Huân chương kháng chiến Hạng I.Bà là con gái ông Nguyễn Duệ,cán bộ lão thành cách mạng và cháu ngoại cụ Lê Thế Hiếu,chủ tịch UBNDCM đầu tiên  và là đại biểu Quốc Hội Khóa I  của tỉnh Quảng Trị.Năm 1975 bà theo đoàn Quân Giải Phóng vào tiếp quản thành phố Huê.Về sau bà được chuyển vào Thành Phố HCM giữ chức vụ Giám đốc XN NAFORIMEX

Ngoài sở trường về chuyên môn, cả hai ông bà đều có khả năng sáng tác văn nghệ – tuy là công việc tay trái nhưng không hề “nghiệp dư” chút nào. Hai ông bà đều là thành viên trong CLB Thơ “Chiều Xanh”. Ông đã in riêng cuốn Tình trải bao năm tháng, Gửi người yêu thương để tặng bà. Bà cũng rất yêu thơ nhưng tâm đắc nhất là hai quyển sách giới thiệu Thơ Văn Lê Thê Hiếu và giới thiệu làng Sơn Nam quê nội của bà.

Ở lứa tuổi cổ lai hy, hai ông bà sống vui vẻ bên nhau, chung thủy với ba chữ “Đồng”: Đồng Tâm, Đồng Chí và Đồng Hương, tình yêu vẫn nồng nàn thắm thiết như thời son trẻ.

Cũng nhân dịp nầy, chúng tôi xin giới thiệu ca khúc Dặm Đường Xa – thơ của Hoàng Hoài được Thành Đức phổ nhạc. Bài thơ này là món quà tặng của tình yêu, đánh dấu thời điểm 1975. Lúc ấy ông đang công tác ở Thượng Hải còn bà thì theo đoàn quân Giải phóng vào tiếp quản TP.Huế.

Sn Hh HoaiDẶM ĐƯỜNG XA
BẢN NHẠC THẮM TÌNH THẾ HỆ

     Những mối tình thường đến từ một cơ duyên nào đó. Hoàng Hoài – người con trai đời thứ 15 của họ Hoàng Bích Khê và cô Bích Hà – cô cháu gái của dòng họ Lê – một dòng họ các sĩ phu yêu nước, Cách mạng ở Tường Vân, Quảng Trị quê ta; là một trong muôn vàn cơ duyên như mọi người vậy.

Thưở xa xôi, thời phong kiến, từ nghĩa huynh đệ giữa các sĩ phu yêu nước ngài Hoàng Hữu Bính, Bích Khê (1857) Tiến sĩ thời vua Tự Đức với ngài Cử nhân Lê Thế Vỹ, Tường Vân (1958), cơ duyên đến với Cậu Ấm Hoàng Hữu Huy và cô tiểu thư Lê Thị Uy, kết nên một gia đình nhiều chiến sĩ, liệt sĩ Cách mạng với hai Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng.

Đến thời Việt Nam “Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội” với “kết nghĩa vườn đào” giữa 3 anh em khoa cử: Ông cử Nguyễn Xuân Luyện (Lập Thạch), Ông Tú Lê Thế Hiếu (Tường Vân) và em út Ông Tú Hoàng Hữu Đàn (Bích Khê) tạo nên thâm tình thấm qua thế hệ trẻ trong cuộc chiến chống ngoại xâm giành tự do và độc lập của dân tộc. Dẫn đến tình duyên đôi bạn trẻ ấy mà cuộc đời họ nay đã bước vào tuổi thất thập cổ lai hy rồi.

Trong những bài thơ Tình Hoàng Hoài đã viết

…”Em ấm áp tình quê giữa Thủ Đô
Duyên kỳ ngộ ngỡ ước hẹn xa xôi…”

Và thơ Bích Hà viết:

“Như phần thưởng muôn đời trao tặng
Trái tim anh mang nặng nghĩa tình
Với tình yêu anh giữ trọn niềm tin
Với trí tuệ anh say mê khoa học
Với công việc anh dốc bầu nhiệt huyết
Như người xưa truyền lại cho anh…”

Với tình yêu có gốc tích và sự đồng cảm nhiều mặt trong cuộc sống đã giúp họ vượt qua mọi khó khăn để có một tình yêu, một cuộc sống gia đình thành một luống hoa tươi đẹp ngát sắc hương.

Qua tình nghĩa bạn bè nhạc sĩ Thành Đức đã đọc tập thơ “Tình trải bao năm tháng, gửi người yêu thương” của Hoàng Hoài, đã đồng cảm được những dòng thơ chân thành mộc mạc của tình yêu và nỗi nhớ của bạn.

Sau đây xin mời bạn đọc thưởng thức ca khúc Dặm Đường Xa

Dặm đường xa – Thơ Hoàng Hoài – Nhạc Thành Đức
Nhạc sĩ Mạnh Hùng và Nhạc viện Hà Nội phối khí – Ca sĩ Trọng Hùng & Hồng Vy

***

GIỚI THIỆU SÁCH HAY

    Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu công trình sách “125 NĂM LÀNG SƠN NAM (Vùng Cùa – Cam Lộ – Quảng Trị) – 1885 – 2010” do các tác giả Nguyễn Thị Bích Hà – Nguyễn Hữu Phu và Nguyễn Ngọc Vinh sưu tầm và biên soạn.

Đây là một mô hình sách truyền thống có chất lượng cao mà có lẽ hiện nay ít có địa phương nào trong tỉnh nhà thực hiện được.

Xin chúc mừng các tác giả nhất là bà Nguyễn Thị Bích Hà (phu nhân của ông Hoàng Hữu Hoài) người đã đầu tư rất nhiều tâm huyết để quyển sách trên đây đến được với bạn đọc.

Sach Hhhoai

                                                                                                                                                             (Sưu tầm)

 Sách của hai ông bà Hoàng Hữu Hoài và Bích Hà

 

Download Embed

 

Bài 12

HOÀNG  HỮU  PHA
MỘT ĐỜI GẮN BÓ VỚI NHỮNG MÁI TRƯỜNG

Ông bắt đầu bước vào nghề giáo năm 1957 ở trường Quốc Học Huế. Ngoài môn dạy Việt Văn, ông còn sở trường khâu tổ chức sinh hoạt hiệu đoàn và sinh hoạt văn nghệ học đường. Ông đã từng tổ chức thành công nhiều đêm liên hoan văn nghệ ở trường Quốc Học.

Một số chủ trường tư biết ông vừa dạy giỏi, vừa có tài tổ chức nên đã mời ông đảm nhiệm khâu chuyên môn nhà trường bao gồm: giáo vụ, hiệu đoàn, tổ chức kỷ luật. Ở Huế, ông đã tham gia công việc quản lý các trường Bình Minh, Nguyễn Du, Bồ Đề… Trong thời gian ở Huế, ông còn tham gia làm báo, viết sách, làm thơ và hội nhập vào đời sống văn hóa văn nghệ của giới trí thức thành phố. Khoảng những năm 1965-1966 ông bí mật tham gia công tác cách mạng trong đường dây của Thành ủy Quảng Đà, biên dịch tài liệu tiếng Pháp để in trong tờ Việt Nam Việt Nam – đặc san tranh đấu chống Mỹ công khai dữ dội nhất của trí thức yêu nước ở Huế.

Sau năm 1975, ông cũng như nhiều người trong giới chủ trường tư gặp không ít khó khăn của thời bao cấp, tưởng chừng như phải bỏ nghề. Mãi đến những năm 1980, nhà nước có chủ trương xã hội hóa ngành giáo dục. Hệ thống trường dân lập ra đời hoạt động đồng bộ với các trường công lập nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu học tập của thanh thiếu niên. Một lần nữa, ông được mời tham gia xây dựng các trường dân lập Chi Lăng, Nguyễn Khuyến rồi trường  Trung Học Hồng Đức ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Trong số đó, trường Hồng Đức là ngôi trường mà ông đầu tư rất nhiều công sức và gắn bó tình cảm sâu sắc nhất đã liên tục phát triển trong vòng mười lăm năm qua.

Giờ đây, bước vào tuổi tám mươi, ông đã có thể thanh thản nghỉ ngơi – hằng ngày lắng nghe hơi thở và nhịp sống chuyển động dưới mái trường nầy với niềm vui vẻ tâm đắc của một nhà giáo dục gặt hái được nhiều thành quả trên mảnh đất trồng người.

LỆ CHI.

Hhpha 2

TẠ ƠN NGƯỜI

t h ơ
                         h o à n g  n  h  ậ  t   n  g  u  y ệ t                

     Tạ Ơn Người là một tập thơ mới xuất bản lần đầu nhưng không phải là tác phẩm đầu tay của Hoàng Nhật Nguyệt. – bút hiệu của Hoàng Hữu PhaTrong tập thơ này, có nhiều bài đã được tác giả sáng tác từ thuở còn thanh xuân. Tuổi thanh xuân của tác giả là chuỗi năm tháng chiến tranh chia lìa. Và như Ernest Hemingway từng nói: “trong mọi cuộc chiến tranh, tình yêu thường là nạn nhân đầu tiên”. Hoàng Nhật Nguyệt cũng như những chàng thư sinh của thế hệ chinh phu 1945, 1946… đã xếp bút nghiên theo nhịp khúc Lên Đàng. Ngoài những nội dung lớn lao của mục đích lý tưởng, điều được ghi nhận nhiều nhất trong thơ ca thuở ấy là hình ảnh những cuộc “ra đi” đầy ấn tượng lãng mạn – thường gọi là “lãng mạn kháng chiến”:

“Nhớ mùa hoa nhãn năm xưa
Anh đi độ ấy em vừa ngang vai
Nắng lên nghiêng mái tóc dài
Em nâng vạt áo hứng vài cành hoa…

                                 (Nhớ mùa hoa nhãn)

                                                     hoặc:

Em thường hay thương xa
Tình em đầy bát nước
Nhớ chăng mười năm trước
Anh đi một chiều mưa…
                                  (Người em gái)

Trên bước đường sông hồ lận đận của Hoàng Nhật Nguyệt, những lời từ ly ngậm ngùi ấy không chỉ có một lần mà cứ như một vọng âm buồn ngân dài theo tháng năm xanh:

Xa rồi Hà Nội ơi mến thương
Đêm nay cách mấy dặm trường
Có đôi mắt mơ về phương ấy
Buổi ra đi tay bu
ồn không vẫy
Bóng người em nhỏ với trông theo…
                                              (Xa Hà Nội)

Không biết nhà thơ đã dành hết bao nhiêu mùa xuân để sống bằng ảo ảnh của tình yêu qua những bóng hình thấp thoáng ấy:

Quá giang trở bến tìm thanh xuân
Lỡ cháy mười năm lửa bạo Tần
Gió động hoa vàng bay lả tả
Cuốn rèm thi sĩ đón giai nhân…

                                          (Bài thơ xuân)

Mãi đến những năm cuối đời, anh mới tái ngộ được với tình yêu. Dường như đến lúc này anh mới thực sự bắt đầu yêu và được yêu:

Hôm nay xin tạ ơn người
Đã cho ta được những lời thương yêu
Tưởng rằng nắng đã xế chiều
Ngờ đâu hửng sáng rất nhiều chim ca
Bình minh hồn mộng nở hoa
Ngày xuân về lại thiết tha ân tình.

                                       (Xin Tạ Ơn Người)

Vậy có thể nói Tạ Ơn Người là một bông hoa tình nở muộn. Nhưng không hề gì. Với thi sĩ, tình yêu là bất tận và mùa xuân luôn luôn vẫn còn ở phía trước.

Nhưng Tạ Ơn Người không chỉ có ngôn ngữ của tình yêu mà còn chan chứa tình cảm dành cho gia đình, bà con, làng xóm và bạn bè. Đối với tác giả, những giá trị tình cảm thiêng liêng ấy cứ như trăm nghìn mạch cổ sầu tuôn chảy trong thế giới của hoài niệm:

Thuở ấy đâu còn cánh hoa tiên
Bài thơ khai bút buổi nguyên niên
Đêm nay đốt lại lò hương cũ
Ông đã khuất rồi lệ ướt nghiên…

                                                        hoặc:

Chị ơi tôi đã hiểu nhiều
Nắng trưa đầu bãi, mưa chiều cuối sông…

Ở đây chúng ta có thể bắt gặp một tuyến nhân vật tương tự như những nhân vật trong “Chân Trời Cũ” tập bút ký văn xuôi của Hồ Dzếnh. Nhưng tuyến nhân vật trong “Tạ Ơn Người” không hẳn là những hình bóng ngủ yên trong thế giới an lành của kỷ niệm. Nhân vật trong thơ Hoàng Nhật Nguyệt đôi khi còn phản ánh cả thế sự xao xuyến qua những vùng sáng tối của chân trời cũ lẫn “chân trời mới”. Hoàng Nhật Nguyệt có nỗi đau đời sâu đậm đến nỗi dường như anh không thể viết được như Hồ Dzếnh – tách rời những vùng tâm sự riêng tư ra khỏi cái nghiệt ngã của thế sự. Và vì vậy, còn có thể nói Tạ Ơn Người  là một phong cách thơ thế sự mang dấu ấn đặc biệt của Hoàng Nhật Nguyệt:

Đi về ngủ với cỏ hoa
Nửa đêm thức giấc trăng tà nghiêng nghiêng
Hai dòng nước mắt ưu phiền
Mặn môi bỏng lưỡi cô miên gối đầu
Chừ đây chờ đến mai sau
Hạnh Hoa thôn nhỏ ở đâu hỡi người
                                                   (Về đi em)

Trong truyện ngụ ngôn Ấn Độ có một người tín đồ ngoan đạo, dành cả đời mình cho những cuộc hành hương tìm về sông Hằng thiêng liêng. Đến lúc mõi mòn kiệt sức, anh ta mới nhận ra rằng chỗ mình dừng lại cuối cùng vẫn chưa phải là bến sông Hằng. Dẫu vậy anh ta vẫn chấp hai tay tạ ơn trời đất. Phải chăng Hoàng Nhật Nguyệt và những người có mối đồng cảm cũng đang trên đường hành hương về một Hạnh Hoa thôn nào đó, còn khó đến hơn cả dòng sông Hằng vĩ đại. Thôi thì hãy cứ đi. Đến hay không đến vẫn có thể chấp tay Tạ Ơn Người.

Giao thừa Tân Tỵ – 2001
Thứ đệ:

Hoàng Phủ Ngọc Phan

 

 

Bài 12 bis-

THƠ HOÀNG THỊ TƯỜNG CẨM

Hoàng Thị Tường Cẩm là con gái đầu của ông Hoàng Hữu Pha tức nhà thơ Hoàng Nhật Nguyệt.

Bà là nhà giáo và là nhà thơ rất chuyên nghiệp. NẾP NHÀ xin giới thiệu tập thơ của bà qua hình bìa sau đây:

 

Z5321815788223 6e9a212e398ba78185c96931cba2261f

Z5321816092783 7cd53f1d5d06192cac7cb694532bd16d

Bài 13 A

1. GS.TS HOÀNG HỮU ĐƯỜNG

Người bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học trong nước đầu tiên ở Việt Nam

     Cách đây hơn 20 năm, một bộ nhà khoa học lớn – một trái tim tràn đầy tâm huyết, khát khao sáng tạo và vượt khó trong lao động khoa học đã ngừng đập khi tuổi đời còn tràn đầy sức sống. Cố GS.TSKH Hoàng Hữu Đường – người bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học trong nước đầu tiên ở Việt Nam. Cuộc đời và những đóng góp của ông gắn liền với quá trình xây dựng ngành toán học giải tích ở Việt Nam.
  1. Hoàng Hữu Ðường sinh ngày 19/2/1936 tại Huế, trú quán tại thôn Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Hải, tỉnh Quảng trị. Sau khi tốt nghiệp xuất sắc tại khoa Toán trường ÐH Sư phạm Khoa học Việt Nam, năm 1956, Hoàng Hữu Ðường trở thành một trong những cán bộ giảng dạy đầu tiên của Trường Ðại học Tổng hợp Hà Nội. Mặc dù còn trẻ, không có điều kiện được ra nước ngoài học tập, trao đổi, nhưng kể từ khi còn là sinh viên cho đến lúc trở thành cán bộ giảng dạy đại học, ông vẫn luôn tỏ rõ là một tài năng hiếm có. Ở trong nước, với những điều kiện nghiên cứu hết sức khó khăn, không có người hướng dẫn, thiếu sách báo và tài liệu tham khảo, bằng con đường tự học, với một nghị lực phi thường và lòng say mê cao độ, Hoàng Hữu Ðường đã đạt được những kết quả đáng trân trọng.

Năm 1974, khi Nhà nước chưa ban hành chính thức qui chế đào tạo sau đại học ở nước ta, Hoàng Hữu Ðường là người đầu tiên bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ Toán-Lý trong nước. Và năm 1982 cũng ở giảng đường trường Ðại học Tổng hợp Hà Nội, ông lại là người bảo vệ thành công luận án tiến sĩ đầu tiên ở trong nước.

  1. Hoàng Hữu Ðường là tác giả của 36 công trình khoa học đã được công bố trong và ngoài nước bằng các thứ tiếng Việt, Nga, Anh, Pháp. Những công trình quan trọng nhất là vấn đề liên quan đến lý thuyết véc-tơ đặc trưng do chính giáo sư đưa ra từ năm 1967. Kết quả này đạt được khi giáo sư đang giảng dạy và làm việc ở khu sơ tán, trong những năm tháng ác liệt nhất của cuộc chiến tranh. Một số giáo sư nổi tiếng của Liên Xô đã đánh giá đó là “những kết quả rất tuyệt vời và là những đóng góp thực sự cho lý thuyết toán học của sự ổn định, ứng dụng trong lý thuyết dao động của các hệ cơ học”. Trong thời gian nghiên cứu và giảng dạy sau đó, giáo sư đã được mời đi trao đổi khoa học tại một số nước châu Âu và làm chuyên gia tại Madagascar. Ông qua đời ngày 27/12/1987 khi mới 52 tuổi.

Trong suốt những năm tháng ấy của cuộc đời, GS. Hoàng Hữu Ðường luôn gắn bó với Tổ Bộ môn Giải tích. Kể từ năm 1961, khi bộ môn chính thức được thành lập, giáo sư đã cùng các thầy giáo của Bộ môn bắt tay ngay vào việc hoàn thiện và biên soạn các giáo trình cơ bản của ngành giải tích toán học. Những giáo trình này không ngừng được bổ sung, hoàn thiện và cập nhật với sự phát triển chung của ngành giải tích trên thế giới. Mặc dù hiện nay, do đặc thù mới trong việc đào tạo, ở Khoa Toán – Cơ – Tin học, Trường ÐHKHTN, đã có sự hiệu chỉnh, thay đổi giáo trình giảng dạy, nhưng chúng ta vẫn không thể nào quên được các giáo trình giải tích hiện đại mà GS. Hoàng Hữu Ðường và GS. Phạm Ngọc Thao đã dày công biên soạn. Như lời của PGS.TS Trần Huy Hổ đã nói: “Bộ môn Giải tích – nơi khởi nguồn của những cái đầu tiên”, thì việc đưa lý thuyết giải tích hiện đại vào chương trình giảng dạy cho sinh viên khoa toán là một trong những sự kiện đầu tiên đó.

Cố GS.TSKH Hoàng Hữu Ðường là một trong những giáo sư đã hướng dẫn thành công các luận án tiến sĩ toán học đầu tiên ở Việt Nam. Trong số những người đã từng được thầy hướng dẫn viết luận án tiến sĩ hoặc luận văn tốt nghiệp đại học, hiện nay đã trở thành những chuyên gia giỏi như PGS. Cấn Văn Tuất, TS. Tôn Quốc Bình, PGS.TSKH Nguyễn Văn Minh… Nói về những đóng góp trong đào tạo của cố GS. Hoàng Hữu Ðường, GS.TS Nguyễn Thế Hoàn đã viết: “Là một nhà toán học nhạy cảm anh mạnh dạn đi tìm hiểu những vấn đề thời sự nhất của toán học mà anh biết được. Khi “nguyên lý cực đại” của Pôntragin ra đời, anh lao vào nghiên cứu bài toán tối ưu và hướng dẫn một số sinh viên thời bấy giờ theo hướng nghiên cứu này. Tuy bản thân anh chỉ viết một công trình về điều khiển tối ưu, nhưng một số học trò của anh sau khi tốt nghiệp đại học đã đi sâu vào hướng nghiên cứu này và trở thành những chuyên gia có tên tuổi mà tiêu biểu là GS.TSKH. Phạm Hữu Sách. Những năm 1968-1970, Trường ÐH Tổng hợp Hà Nội chuyển về khu sơ tán Ðông Anh. Khoa Toán “đóng đô” ở xã Ðông Hội. Ở đó, mặc dù cuộc sống kham khổ, vất vả, nhưng anh vẫn say sưa đọc lý thuyết phương trình vi phân ngẫu nhiên và giảng dạy cho sinh viên năm cuối Khoa Toán hướng nghiên cứu mới mẻ này. Vài năm sau, anh chuyển sang nghiên cứu lý thuyết kỳ dị trong phương trình vi phân. Sau đó tuy anh không tiếp tục nghiên cứu phương trình vi phân ngẫu nhiên, nhưng dưới ảnh hưởng của chuyên đề anh dạy, một số học trò của anh đã tiếp tục đi sâu hướng nghiên cứu này và đạt được những kết quả đang kể như GS.TSKH Trần Văn Nhung với lý thuyết số mũ của phương trình vi phân với tham số ngẫu nhiên; PSG.TSKH Phạm Trần Nhu với một số kết quả của điều khiển tối ưu các hệ ngẫu nhiên… Ðối với lý thuyết kỳ dị, anh Ðường cũng thu được một số kết quả và đã hướng dẫn hai nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ theo hướng nghiên cứu này là Nguyễn Văn Minh và Tôn Quốc Bình”.

  1. Hoàng Hữu Ðường là một người nghiên cứu sâu và rộng về phương trình vi phân, nhưng có lẽ bài toán mà ông quan tâm nhất và cũng đạt được nhiều kết quả sâu sắc nhất là bài toán về ổn định nghiệm. Ðể giải quyết một số trường hợp tới hạn trong lý thuyết ổn định, ông đã xây dựng lý thuyết vectơ đặc trưng, lý thuyết về hệ m – khả qui, m – chính qui.

Sau đó theo hướng nghiên cứu này, giáo sư đã hướng dẫn một số nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ như: Ðoàn Trịnh Ninh, Cấn Văn Tuất. Cũng cần nói thêm rằng tất cả các kết quả nghiên cứu của giáo sư là do tự tìm tòi, nghiên cứu ở trong nước, không hề được sự hướng dẫn của ai.

Cuộc đời giản dị và khiêm nhường; ý chí vượt khó khăn, ham học, năng động trong nghiên cứu khoa học của GS. Hoàng Hữu Ðường vẫn luôn để lại cho các thế hệ sau này những kinh nghiệm quí giá. Ông là tấm gương sáng về tinh thần lao động kiên trì, về khả năng độc lập và sáng tạo trong nghiên cứu và giảng dạy toán học.

 

Trích nguồn của Đại Học Quốc Gia HÀ NỘI        Logo

 

 

Bài 13 B

Giáo sư Tiến sĩ  HOÀNG HỮU ĐƯỜNG

                                                  ĐÃ RA ĐI!                                                                                                                                                                                                                                        Gs.Ts NGUYỄN CANG
 

GS.TS Hoàng Hữu Đường (1936-1987)

L.T.S – Hoàng Hữu Đường (Đ.16) thứ nam của Bác sĩ Hoàng Hữu Diệu sinh ngày 19-02-1936 tại Huế,chánh quán thôn Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Hải, tỉnh Quảng Trị.

Đã theo học tại các trường tiểu học Ba Đồn (Quảng Bình), trường trung học Phan Bội Châu (Quảng Bình), trường phổ thông Huỳnh Thúc Kháng (Bạch Ngọc – Nghệ An) và trường đại học khoa học (Hà Nội). Sau khi tốt nghiệp bậc đại học được cử làm cán bộ giảng dạy khoa Toán Trường đại học tổng hợp Hà Nội. Năm 1973 trình luận án Phó tiến sĩ Toán, và năm 1982 người đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Toán ở trong nước. (Đúng ra ông đã có thể bảo vệ luận án tiến sĩ từ nhiều năm trước đó.) 

Ngày 27-12-1987, đã mất đột ngột vì cơn xuất huyết não, hưởng dương 52 tuổi. Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Cang, chủ nhiệm khoa toán trường đại học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh về giáo sư tiến sĩ khoa học Hoàng Hữu Đường, một tài năng của đất nước. (Cửa Việt)

* Năm 1955, từ vùng đất kháng chiến ở trong Nam, tôi được về Hà Nội học. Thời ấy Hà Nội chỉ có một thư viện do Pháp để lại là Thư viện Pasquier lấy tên của một thực dân đầu sỏ (một thời là toàn quyền Đông Dương). Thư viện này về sau đổi tên là Thư viện Quốc gia (ở đường Tràng Thi). Trong thư viện có một quyển sách có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với tôi, đó là quyển Les grands mathématiciens (Những nhà toán học lớn). Tôi đọc say sưa cuộc đời và sự nghiệp của các nhà toán học vĩ đại của nhân loại. Đọc xong tôi tự rút ra kết luận: có những nhà toán học có bộ óc tuyệt vời bẩm sinh, sự cống hiến của họ cho khoa học Toán học khiến cho nhân loại muôn đời phải mang ơn, nhưng cũng có những nhà toán học không phải là thiên tài bẩm sinh nhưng do nghị lực phi thường, lòng say mê vô hạn đối với toán học cọng với phương pháp tốt mà tên tuổi trở thành bất tử vì những cống hiến lớn lao của họ cho nền Toán học thế giới. Loại thiên tài bẩm sinh, tôi rất phục nhưng cảm thấy họ xa vời mình quá, nhưng loại sau làm tôi cảm thấy gần gũi, yêu thương và gần như trở thành thần tượng động viên tôi trong suốt cuộc đời đi học.

Năm 1967, tôi là nghiên cứu sinh Toán người Việt Nam đầu tiên tại Trường đại học tổng hợp Bucarest. Giáo sư dạy tôi là một người gốc Do Thái. Những lúc nói chuyện học hành với giáo sư, tôi thường tò mò hỏi trong các học trò của giáo sư ai là người mà giáo sư cho là xuất sắc nhất. Không cần ngần ngại, giáo sư bảo đó là Dan. Và sau đó tôi làm quen với anh ta. Dan là một thanh niên Rumani rất trẻ 18 tuổi, nổi tiếng vì trong 1 năm đã thi đỗ ưu tất cả các chứng chỉ toán của chương trình 5 năm ngành toán trường Đại học tổng hợp Bucarest và được bổ nhiệm làm phụ giảng và không mấy khó khăn anh ta đã đỗ tiếp tiến sĩ 1 và tiến sĩ khoa học khi mới 20 tuổi. Năm 1983. tại Vácsava, tôi đã gặp lại Dan ở hội nghị toán học thế giới và không ngạc nhiên một tý nào khi tôi thấy tên anh trong danh sách các nhà toán học nổi tiếng thế giới được mời thuyết trình 45 phút ở hội nghị. Đây là vinh dự lớn vì ở vùng Đông Nam Á, chưa có ai được mời như vậy. Tôi nghĩ Dan thuộc loại thiên tài bẩm sinh. Đồng thời, ngược lại, hoàn toàn tương phản với Dan là Drêgan, mù hai mắt, không trẻ lắm, nhưng tinh thần cần cù nhẫn nại thật tuyệt vời nên cũng đã thành đạt từ xêmine của thầy tôi. Trong các hội thảo về toán học, khi thuyết minh và nhận xét công trình của Drêgan bao giờ thầy tôi cũng mở đầu: “Tôi phát biểu thay cho Drêgan vì Drêgan không được may mắn có 2 mắt bình thường như chúng ta”. Tôi đã nghe nhiều lần câu ấy nhưng lần nào thầy tôi cũng nhắc lại với tình cảm thương yêu, xót xa nhưng đầy cảm phục đối với người học trò bất hạnh của mình.

Khi về nước, vì cùng chuyên môn học trong ngành Toán nên tôi và Hoàng Hữu Đường thường sinh hoạt chung trong xêmine “Phương trình vi phân” do anh em trong Viện Toán tổ chức. Chúng tôi thân nhau từ đấy. Càng tiếp xúc, làm việc trao đổi chuyên môn với nhau tôi càng quý, càng phục, càng thương anh Đường. Tinh thần làm việc say mê, cần cù nhẫn nại như một con ong của anh, đã hoàn toàn chinh phục tôi. Tôi liên tưởng tới Drêgan và Dan. Đường không giống Dan nhưng tinh thần ham học thì khá gần nhau. Đường chăm còn hơn cả Drêgan nhưng cũng có phần may mắn hơn Drêgan vì không bị khuyết tật. Tôi thấy ở anh có một phần của Dan và một phần của Drêgan. Tôi vinh dự được mời tham gia phát biểu về luận án phó tiến sĩ “lý thuyết số mũ trên của hệ phương trình tuyến tính” của anh năm 1974. Chúng tôi đã quá quen thuộc với công trình này và đã từng ngưỡng mộ nó. Phải nói rằng, với một người ít được may mắn đi ra nước ngoài nhiều lần (trước 1975) như anh mà đạt được kết quả như vậy thật là hiếm. Để hoàn thành công trình này, Hoàng Hữu Đường đã bắt đầu từ những buổi nghe giản vỡ lòng với giáo sư Ecsốp, trường đại học Lêningrad trong những năm đầu thập kỷ 60. Hoàng Hữu Đường đã được Ecsốp khai tâm từ đó. Về sau là những chuỗi ngày miệt mài không biết mệt đối với tuổi ngoài 20 của anh.

Trên thế giới chỉ có hai nước đầu tiên có tạp chí “Phương trình vi phân” riêng là Liên Xô và Mỹ. Các nước khác hoặc ghép chung chuyên ngành này vào “Giải tích” hoặc về sau này mới có tạp chí riêng. Sự bền bỉ của Đường đã được đến bù xứng đáng. Phần chính của luận ánh Phó tiến sĩ của anh đã đăng tải ở tạp chí “Phương trình vi phân” của Liên Xô. Tôi chia vui với anh nhưng biết chắc rằng không dừng thành tích của mình ở đó vì Đường đã bị trường phái Lêningrad “mê hoặc” rồi. Cùng chuyên ngành họp với nhau nhưng tôi và Đường dùng công cụ toán học khác nhau, mặc dù mục tiêu của chúng tôi không khác nhau mấy. Trong toán học, hiểu nhau sâu là điều không đơn giản. Tuy vậy tôi và Đường khá hiểu nhau. Ở Liên Xô, cũng là Phương trình vi phân nhưng có hai trường phái nghiên cứu khác nhau. Ở Mạc tư khoa, các nhà toán học về ngành này nghiên cứu khác với ngành toán học ở Lêningrad. Hoàng Hữu Đường có lẽ đã đi những bước đầu tiên với Ecsốp. Tôi hay nói đùa: “Đường đã ăn phải bùa mê của Lêningrad”. Luận án tiến sĩ của anh sau này “Lý thuyết Vectơ đặc trưng và ứng dụng để nghiên cứu sự ổn định nghiệm của các hệ phương trình vi phân” đã được bảo vệ thành công năm 1982 ở Hà Nội, chẳng những là vinh dự lớn của anh mà còn là niềm sung sướng tự hào của trường phái Lêningrad nữa.

Tinh thần hăng say của Đường thật đáng “sợ”. Các nhà toán học Pháp đã từng qua làm việc tại Hà Nội đều có chung một cảm giác đó với các đồng nghiệp Việt Nam. Tôi sung sướng, cảm phục, tự hào về những việc làm mang tính “con ong” của anh. Anh đã kiên nhẫn, tập trung ghi chép lại khá công phu, chính xác các bài thuyết trình của Trêdêric Phạm, Malgrange, Chenciner. Sau này anh tâm sự với tôi là anh muốn mở rộng tầm nghiên cứu của anh về sự “Kỳ dị” do các bài giảng của Phạm, Chenciner gợi ý. Tôi vui lây cái vui, cái hồ hởi của anh và mong đợi những thành công mới của anh.

Bẵng đi một dạo xa anh vì tôi làm việc ở Viện toán Ba Lan. Trong hội nghị toán toàn quốc lần thứ ba tại Hà Nội năm 1985, tôi gặp lại anh và anh đã bàn với tôi nhiều việc trong đó có dự định tổ chức ngày “Toán học Việt Nam” với sự tham gia của các nhà toán học nước ngoài và trong nước. Anh tin tưởng: “Chúng ta đã đông người, đủ sức rồi đấy, phải tổ chức đi thôi”. Tôi tán thành nhiệt liệt dự án của anh, chỉ còn băn khoăn một vấn đề là cơ sở vật chất để tổ chức. Nhưng anh đã vĩnh viễn giã từ chúng tôi, những bạn đồng nghiệp của anh, mang theo bao ước mơ, hoài bão xây dựng ngành Phương trình vi phân của Việt Nam. Tiếc thương anh vô hạn, một gương hiếm có về tài năng và nghị lực đáng để cho bạn đồng nghiệp và học trò anh noi theo, chúng tôi đang cố đi tiếp con đường của anh, hy vọng lần lượt thực hiện những phần mà anh đã tâm đắc với chúng tôi.

                                                                                                          Hh Duong

THẦY HOÀNG HỮU ĐƯỜNG
TẤM GƯƠNG MÃI SÁNG

 NGUYỄN KHẮC PHÊ

Tôi nghe tiếng thầy Hoàng Hữu Đường (HHĐ) từ lâu, lại từng ở cùng khu tập thể Đống Đa với bác sĩ nhi khoa Hoàng Thị Bạch Lài – một “cộng tác viên” của trung tâm nghiên cứu Tâm lý Trẻ em (NT) do bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thành lập từ 10 năm trước, nhưng gần đây mới biết chị là chị ruột của giáo sư HHĐ. Nguyên do, chị Lài biết tôi là em con dì với Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn, muốn nhờ giáo sư viết ít dòng lưu niệm cho gia đình về người em không may đã mất sớm. Ít ngày sau, chị thuê xe ôm đến nhà tôi, cho tôi xem lá thư của anh Nguyễn Cảnh Toàn:

“…Thư của chị làm tôi xúc động nhớ lại những kỷ niệm xưa. Ý muốn của gia đình muốn lưu lại cho các thế hệ sau một tấm gương hiếu học cũng thật là đáng trân trọng…” 

Chị Lài nay đã là một bà lão gần tám chục tuổi, vậy mà nỗi xúc động và có lẽ cả sự mừng rỡ do sớm nhận được hồi âm của Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn đã khiến giọng chị ”líu lo” như trẻ thơ:

–  Anh coi, tui không ngờ Giáo sư tuổi cao sức yếu mà còn sốt sắng như thế, còn thương nhớ một người học trò xa cách đã lâu…

“…Đã hơn 50 năm trôi qua kể từ khi tiếp quản Thủ Đô và đón nhận những khóa sinh viên đầu tiên. Hồi đó, sinh viên ít nên qua vài năm dạy học, đã nhớ hết những sinh viên mình dạy: trong số đớ, tôi nhớ nhất anh Hoàng Hữu Đường. Bởi lẽ, sau khi tốt nghiệp, anh được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy và đã tỏ ra là một tài năng trẻ đầy triển vọng. Anh đã tự học rất có kết quả, tự mình chuẩn bị lấy luận án tiến sĩ khoa học và đây là luận án tiến sĩ khoa học được bảo vệ đầu tiên ở trong nước… Tôi còn nhớ như in hôm anh mang luận án đến nhà tôi để tôi đọc với tư cách vừa là phản biện, vừa là thành viên Hội đồng chấm luận án. Tôi còn nhớ nét mặt xương xương, mắt đeo kính trắng, lời nói nhỏ nhẹ đúng là giọng Huế của anh. Anh mất đi quá sớm, để lại tiếc thương cho bao nhiêu người, trong đó có tôi.” (Trích thư GS.VS. Nguyễn Cảnh Toàn, ngày 12-6-2009)

Thực ra, HHĐ quê làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, nhưng nhiều người cứ nghĩ ông là người Huế. Cũng vì thân mẫu ông quê ở Huế và phần mộ song thân của ông sau năm 1975 đều đã được đưa về vùng đồi thông phía Tây thành Huế. Hơn nữa, HHĐ sinh tại Huế (ông sinh ngày 19-2-1936) và hai người chị của ông đều đang sống tại Huế.

Trong khi không ít cán bộ đã xây được nhà riêng, chị Bạch Lài vẫn sống ở một căn phòng nhỏ trong khu tập thể Đống Đa cũ kỹ. Hình như chị không quan tâm gì mấy đến cuộc sống vật chất của mình cũng như những vấn đề thời sự nóng bỏng hiện nay, ví dụ như tình trạng “lạm phát” Trường Đại học mà Quốc hội và dư luận đang sôi nổi bàn luận. Chị thích sống với những kỷ niệm xưa và đặc biệt không nguôi nhắc nhớ về cậu em út tài giỏi đã đột ngột “ra đi” vào một ngày đông năm 1987.

Đã hơn 20 năm qua, nhưng trước mắt chị, cậu em vẫn luôn hiện ra sống động. Thì đó, trên bức tường phía trước giường nằm, ở vị trí sáng rõ nhất, chị treo khung ảnh in hình HHĐ và một đoạn trích được chụp lại từ trang báo ảnh Việt Nam số 294 – tháng 6-1983:

“Số phận dành cho HHĐ hai lần hạnh phúc: Anh là một trong mấy người đầu tiên bảo vệ luận án phó tiến sĩ trong nước (1973) và cũng là người đầu tiên bảo vệ luận án tiến sĩ trong nước (1982), đánh dấu bước trưởng thành trong việc đào tạo cán bộ trên Đại học ở Việt Nam. HHĐ lớn lên trên mảnh đất cằn cỗi và khốc liệt của chiến tranh bên dòng sông Thạch Hãn…”

Hồn thiêng sông núi vùng địa linh nhân kiệt ấy cũng là một yếu tố sinh thành nên tài năng và bản lĩnh HHĐ – đồng hương với HHĐ, ngoài hai anh em con chú Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, còn có nhiều người nổi tiếng nhưchiến sĩ cách mạng Hoàng Thị Ái,nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, doanh nhân Hoàng Kiều (Tổng giám đốc RASS, một tập đoàn ở Mỹ)… – nhưng thực ra ông là người luôn phải sống xa quê. Hồi nhỏ, HHĐ theo học Trường Phan Bội Châu (PBC) ở Quảng Bình, do thân phụ của ông được cử làm Q. Trưởng ty Y tế Quảng Bình thời chống Pháp. Thực hiện chủ trương của Chính Phủ, nhiều thầy giáo giỏi từ Trường Quốc Học Huế như các thầy Phạm Chữ, Lê Trí Viễn, Vương Tử Ba, Thân Trọng Ninh… đã được điều ra tăng cường cho trường PBC. Riêng hai thầy Dương và Lê Văn Khải thì đã nằm lại vĩnh viễn ở mảnh đất khói lửa này. Sau đó, HHĐ cùng với nhiều học sinh trường PBC như Dương Viết Á, Lưu Đức Trung, Lê Ngọc Tú… tản cư ra học trường Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ An. Cũng lạ, trong lớp học sinh từ “Bình Trị Thiên khói lửa” trưởng thành từ ngôi trường ấy ở Nghệ An, không ít người trở thành những nhân tài của đất nước…Chị Lài vừa tìm đưa cho xem những “tư liệu” về nhà toán học trẻ tuổi HHĐ, vừa bồi hồi nhắc lại những kỷ niệm về cậu em thời thơ ấu: “Tội lắm anh ạ, từ nhỏ, Đường tỏ ra ham học một cách rất đặc biệt. Mới 3-4 tuổi – lúc ấy trong nhà gọi Đường là út – một buổi trưa nắng Quảng Bình chang chang, mọi người đang yên nghỉ, út cứ nằng nặc đòi đưa đi học. Nhà đành chiều út, đưa út đến nhà thầy Luân ở cạnh, trẻ con hàng xóm thấy lạ cũng chạy theo… Anh biết không, hồi mới ra Hà Nội…Hồi đó, lớp sinh viên Khu Tư đầu tiên hội tụ tại Hà Nội sau hiệp định “Giơ-neo” 1954, hầu hết đều phải sống kham khổ, thiếu thốn đủ bề. Bữa cơm thường chỉ ăn với độc vị muối vừng. Những buổi sáng, nhìn bạn ăn nắm xôi xéo hay quả chuối tiêu vàng hươm thơm phức, thèm nhỏ dãi, vẫn phải bóp bụng nhịn đói vào lớp. Có điều lớp sinh viên thời ấy, nhiều bạn chịu nhịn ăn nhưng không thể “nhịn” đọc sách. Nhà phê bình Văn Tâm từng cho tôi biết rất nhiều cuốn sách quý má ông có được là nhờ nhịn ăn quà sáng thời sinh viên. HHĐ thì có lần tìm thấy một cuốn sách toán học rất quý, đành phải viết thư cho chị Lài xin tiền. Hồi ấy, chị Lài vừa tốt nghiệp y sĩ, đã làm chi có tiền, nhưng đọc những dòng chữ tha thiết thể hiện niềm say mê toán học vô hạn của cậu em, thương em quá, chị đành bán chiếc nhẫn vàng duy nhất đầy kỷ niệm của mình. Vậy mà vẫn chưa đủ tiền mua cuốn sách đó, mấy bạn cùng tổ toán với HHĐ phải tranh thủ ngày nghỉ, đẩy xe bò chở hàng thuê để kiếm thêm…Với bẩm tính thông minh và tinh thần kiên trì, chịu khó học hỏi như thế, chàng thanh niên 20 tuổi HHĐ đã tốt nghiệp đại học vào loại xuất sắc và trở thành một trong số cán bộ đầu tiên giảng dạy Khoa Toán, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Không thỏa mãn với kết quả đầu tiên ấy, từ năm 1961, HHĐ đã mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài “Sự ổn định các số mũ đặc trưng của hệ phương trình vi phân tuyến tính” – một hướng nghiên cứu ở Việt Nam chưa có người đi trước. Lúc ấy, HHĐ mới 25 tuổi! Tôi bỗng đưa mắt nhìn tấm ảnh của anh để lại. Ảnh không còn rõ nét, nhưng vẫn hình dung được qua đôi mắt nhìn thẳng sau cặp kính trắng dưới vầng trán cao, rộng một tính cách cương nghị, một con người đầy bản lĩnh và tự tin. Phải! Chỉ với nhân cách như thế, HHĐ mới dám xông vào một lĩnh vực toán học còn mới mẻ, không có người hướng dẫn và sau 2 năm kiên trì tự mày mò tìm kiếm, anh đã đi đến đích. Nhà báo Hàm Châu, trong một bài viết hơn 20 năm trước, đã ghi lại ý kiến của Giáo sư Lê Văn Thiêm, Chủ nhiệm khoa Toán, trường Đại học Tổng hợp lúc ấy: “Vấn đề HHĐ nghiên cứu là một trong những vấn đề trọng tâm của lý thuyết phương trình vi phân có nhiều ứng dụng trong kỹ thuật… Vì không có chuyên gia về nghành này ở trong nước, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã gởi công trình của HHĐ sang Liên Xô, nhờ hai giáo sư tiến sĩ khoa học toán – lý là R.E. Vinôgrat ở Mátxcơva và V.A Plix ở Lêningrát đánh giá”

Hai nhà khoa học Liên Xô đã đánh giá cao kết quả nghiên cứu của HHĐ và đề nghị tác giả nếu có điều kiện sang Liên Xô trình bày công trình của mình như một luận án phó tiến sĩ. Và anh đã chuẩn bị lên đường cùng với Phan Đình Diệu, nhưng rồi vì một “lý do đặc biệt” trong tình hình đất nước còn chia cắt, chỉ Phan Đình Diệu được đi và sau này, ông trở thành Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam.

Gặp trở ngại một cách thật bất ngờ và có thể nói là oan uổng nữa, nhưng HHĐ không nản chí, vẫn say mê với công tác giảng dạy và nghiên cứu. Trong điều kiện nhà trường sơ tán giữa vùng núi tỉnh Bắc Thái, bất chấp mọi thiếu thốn và gian khổ, một lần nữa, HHĐ lại tự mình nghiên cứu một đề tài mới “Lý thuyết Vectơ đặc trưng và ứng dụng của nó để nghiên cứu sự ổn định nghiệm của hệ vi phân”. Do chưa thể ra nước ngoài vào lúc đó, lại một lần nữa, công trình của HHĐ được gửi sang Liên Xô và các giáo sư danh tiếng tại hai trường đại học lớn của Liên Xô đã khẳng định công trình của anh hoàn toàn xứng đáng là một luận án tiến sĩ khoa học toán lý.

Cùng với hai luận án nói trên, HHĐ còn là tác giả của hơn 30 công trình công bố trong và ngoài nước. Và như một câu trong kinh thánh, nay đã trở nên một thành ngữ quen thuộc: “Của César trả lại cho César”, các chân giá trị sớm muộn cũng được công nhận, tất nhiên với điều kiện người cầm cân nảy mực phải có “con mắt xanh”. Con người đó chính là Giáo sư Tạ Quang Bửu. Với cương vị Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, biết rõ giá trị công trình của HHĐ, ông đã cho lập Hội đồng Khoa học để HHĐ bảo vệ luận án Phó tiến sĩ. Chính vì thế mà đây là luận án Phó tiến sĩ đầu tiên được bảo về trong nước, một luận án “nội” hẳn là khác đẳng cấp với những luận án bảo vệ trong nước sau này vì thực sự nó đã được các giáo sư nước ngoài đánh giá cao. Nói cách khác, việc bảo vệ trong nước chỉ là để hợp thức hóa một học vị mà đáng lẻ phải được công nhận trước đó 10 năm. Tiến sĩ toán học Nguyễn Cang, Chủ nhiệm Khoa Toán Trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, khi nhắc đến cuộc bảo vệ luận án này đã viết: “… Chúng tôi đã quá quen thuộc với công trình này và đã từng ngưỡng mộ nó…”.

Một điều ít ai ngờ là việc bảo vệ luận án tiến sĩ của HHĐ lại gặp trở ngại vì “lí do đặc biệt” như lần trước, ngay khi Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô đã hoàn thành các bước thẩm định và tổ chức Hội đồng khoa học với sự giới thiêu của Bộ trưởng Tạ Quang Bửu. Thế là một lần nữa, “con mắt xanh” mới được cử làm bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp là giáo sư Nguyễn Đình Tứ đã tổ chức cho HHĐ bảo vệ luận án tiến sĩ trong nước. Thì cũng có thể coi là “trong họa có phúc”; do gặp trắc trở mà HHĐ như tờ báo ảnh Việt Nam đã viết: “Số phận dành cho HHĐ hai lần hạnh phúc: Anh là một trong mấy người đầu tiên bảo vệ luận án phó tiến sĩ trong nước (1973) và cũng là người đầu tiên bảo vệ luận án tiến sĩ trong nước (1982)…”

Từ sau ngày đất nước thống nhất, các loại “lý do đặc biệt” nhiều khi đến là vô lý không còn giá trị nữa, HHĐ đã như một con chim bằng tung cánh bay đi khắp phương trời. Ông đã dược mời sang Madagascar làm chuyên gia dạy toán, rồi sang Liên Xô, Hungari, Ba Lan, Pháp, Hà Lan, Cộng hòa Liên bang Đức báo cáo về toán học… Nhưng số phận nghiệt ngã, đúng là “ngày vui ngắn chẳng tày gang”, chỉ sau chuyến đi sang Đức mấy tháng, ông đã vĩnh biệt tất cả vì cơn đột quỵ vào một ngày cuối năm 1987!

Hơn hai mươi năm đã qua từ ngày ấy…Chị Lài nhắc tôi không chỉ một lần:  Nếu anh có viết về cậu em tôi, đừng nhắc chi những trắc trở buồn phiền ngày trước. Chuyện đã qua lâu rồi… à, còn chuyện này, tôi chưa kể với anh…

Chị Lài nhỏ giọng và rơm rớm nước mắt khi nhắc lại chuyện HHĐ cùng bố trở lại Huế ngay sau ngày đất nước thống nhất. Lúc đó, xe khách chưa được qua cầu Bến Hải, hai bố con đi bộ qua. HHĐ giành phần gánh hành lí cho bố nhẹ bước, vất vả lắm mới theo kịp ông. Như là linh hồn người vợ vừa qua đời đang giục ông bước nhanh. Nếu trong đời HHĐ có điều buồn phiền thì có lẽ đó là việc anh không có điều kiện chăm sóc mẹ trong những ngày tháng cuối cùng…

Tất cả đều là chuyện đã qua lâu rồi! Tôi nghe lời chị Lài, nhưng “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, cũng phải nhắc qua những trở ngại mà HHĐ đã kiên nhẫn vượt qua, để càng rõ thêm chất “vàng ròng” đã thử “lửa” và sức mạnh ý chí bất chấp gian nan của HHĐ đã đưa anh tới đỉnh cao khoa học. Chính vì thế mà trong một ngày giỗ của thầy HHĐ, anh C.B, thay mặt nhóm sinh viên khóa 15, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã viết: “Lớp sinh viên chúng tôi sẽ còn soi mãi vào tấm gương sáng của thầy giáo HHĐ… đã góp phần hình thành biết bao nhân cách và trí tuệ của các thế hệ sinh viên..”.

Bài viết trên Báo AN NINH THẾ GIỚI
(Năm thứ 14 – Số 23, tháng 11-2009)

Bài 14

HOÀNG HỮU CHỈ
TÀI TÌNH DỄ MẤY XƯA NAY

 Hồi còn đi học, anh Hoàng Hữu Chỉ (đời 16) là người học trò giỏi đúng nghĩa. Từ các môn chính như Văn, Toán, Khoa học thường thức, Sử, Địa đến các môn phụ như nhạc, vẽ, thủ công, làm vườn, thể thao, lửa trại, văn nghệ… môn gì anh cũng lấy điểm 10 một cách tự nhiên – thậm chí nếu muốn trụt xuống điểm 9, điểm 8 e còn khó hơn. Hồi đó việc dạy dỗ học hành rất thiệt thà trong sáng. Nói giỏi là giỏi thiệt chứ không có gì bất công gian lận giữa thầy trò. Anh ở làng Bích Khê, lên học lớp nhất (bây giờ là lớp Năm) trường Triệu Phong ở Sãi mà các thầy cô trong trường cứ tấm tắc khen ngợi anh bằng một câu nghe thật mát ruột: “Đúng là họ Hoàng Bích Khê”. Kỳ thi năm ấy họ Hoàng Bích Khê lại lập một thành tích xuất sắc: Hoàng Hữu Chỉ đổ đầu toàn tỉnh Quảng Trị và Hoàng Phủ Ngọc Tường đổ đầu Thừa Thiên Huế. Điểm của anh Chỉ cao hơn điểm của anh Tường và là điểm tuyệt đối. Anh Tường tuy cũng giỏi nhưng nếu năm ấy thi cùng một trung tâm có lẽ sẽ đứng sau anh Chỉ.

Ở anh Chỉ thấp thoáng hình ảnh của những tiền nhân lỗi lạc như ngài Hoàng Hữu Xứng, cử nhân trungtuấn – Hoàng Hữu Bính, hoàng giáp đệ nhất danh…

Ấy thế mà…Chiến tranh ngày càng ác liệt đã tràn tới. “Ôi thôi rồi còn đâu quê nhà, ngày giặc Pháp đốt làng diệt thôn…” Cuối cùng, Hoàng Hữu Chỉ theo gia đình vào Huế, chỉ để lại làng quê ký ức về một tuổi thơ dữ dội.

Vào Huế thoạt đầu anh vừa làm vừa học nghề nhiếp ảnh và hội họa với ông Phi Long – học theo cải kiểu học lóm, học lén. Ngoài ra còn một số nghề chơi khác cũng lắm công phu, không biết anh học được với ai và từ bao giờ. Đó là chơi đàn mandoline và guitar, sáng tác ca khúc, thổi sáo, viết văn, làm thơ. Anh đã dùng nhiều bút hiệu như Bích Phong, Hoài Phong, Cuồng Vũ và sau cùng tự khẳng định tên tuổi với bút hiệu Hữu Hoàng. Từ thập niên 1960, Hữu Hoàng là một nhà thơ nổi tiếng ở Huế, cùng với Phong Sơn đã in tập thơ Hoa Nắng. Học tiếng Anh  trong quân đội, đỗ cao nên được cử đi tu nghiệp ở Okinawa. Tóm lại, đó là một mẫu người tài hoa số một của thế hệ họ Hoàng đời thứ 16.Mẫu tài hoa ấy nếu gặp thời,gặp vận chắc chắn sẽ  có những bước phát triển  rực rỡ vô cùng. Bây giờ, nét vẽ câu thơ của anh ngày càng điêu luyện. Bức ảnh truyền thần của ngài Hoàng Hữu Xứng ở nhà thờ Chi nhất Phái nhất bị bom hủy diệt. Anh đã phục chế lại giống đến 99,99 phần trăm. Lăng mộ, nhà thờ họ, đình làng tái thiết, một tay anh thiết kế trang trí. Anh đã cách điệu chữ Hoàng (chữ Hán), viết đủ kiểu chân, thảo, triện, lệ dùng để trang trí ở từ đường, lăng mộ. Chữ Hoàng trên bìa 1 của Nếp Nhà do anh viết mang dáng dấp của một ngôi đền thờ.Cũng nên nói thêm việc thực hiện đặc san Nếp Nhà là một truyền thống đã có từ những năm 1957 – 1958… Thuở ấy chính anh là người chủ trương thực hiện. Một mình anh trình bày, thiết kế, chép tay cả tờ báo và mỗi lần chỉ làm được duy nhất một bản. Nay tuy ở xa nhưng lượng bài vở anh gửi về Nếp Nhà chiếm tới một nửa.

Tuy có tài nhưng anh luôn luôn sống giản dị, khiêm tốn và hòa nhã. Đối với bà con việc họ, việc làng anh đều tận tình tận lực. Cái tài của anh đã quí mà cái công đức của anh đối với bà con làng nước, lại càng quí hơn.

 NGỌC PHAN

Những tờ nội san gia đình đầu tiên do Hoàng Hữu Chỉ trình bày.                                    Ảnh chân dung Hoàng Hữu Chỉ

 

Thơ
HỮU HOÀNG

     Hữu Hoàng là bút hiệu của Hoàng Hữu Chỉ. Ông còn bút hiệu khác là Cuồng Vũ, Bích Phong…nhưng Hữu Hoàng là bút hiệu đã trở thành nghệ danh. Ông là một đấng tài hoa, sở trường các nghề chơi lắm công phu như thơ, văn,nhạc, họa và nhiếp ảnh. Riêng hội họa và nhiếp ảnh thì không chỉ là nghề chơi mà còn là nghề nghiệp sinh nhai.

Hữu Hoàng có lẽ là người họ Hoàng đầu tiên làm thơ mới. Nói là đầu tiên vì các vị văn nhân họ Hoàng từ đời 13 đến đời 15 phần lớn chuyên trị thơ cũ (Đường luật bát cú, tứ tuyệt.) Hữu Hoàng vừa làm thơ cũ, vừa làm thơ mới. Thơ cũ chủ yếu dùng vào các dịp quan hôn tang tế… Thơ mới là để hội nhập vào đời sống văn hóa văn nghệ hiện đại. Mới, cũ đều có thể làm hay. Học hết bậc Tiểu học, Hữu Hoàng đã có những vần thơ rất già dặn:

“Cánh buồm trần nhấp nhô trong bể hoạn
Lộng gió chiều chệnh choạng lướt phong ba
Tháng ngày trôi nào mấy lúc cập bờ
Trọn hết kiếp ở ngoài cao rộng…”

     Vào đầu thập niên 1960, Hữu Hoàng và Phong Sơn in chung tập thơ Hoa Nắng, chứa chan hình ảnh mùa hè rực rỡ của xứ Huế với hoa phượng, áo dài và nón lá. Thưở ấy, nữ sinh Đồng Khánh ưa chuyền tay nhau chép Hoa Nắng vào những tập lưu bút của tuổi học trò. Rồi cứ thế, dài theo năm tháng, mạch thơ Hữu Hoàng trăm đường nghìn mối thấm vào những nỗi niềm riêng chung, vào số phận con người và vào cuộc phong trần, dâu bể. Sau đây là một vài bài thơ còn sót lại trong ký ức của một người làm thơ không còn muốn nhớ những bài thơ đã từng đồng hành với mình qua những tháng năm xanh…

NGUYỆT PHƯỢNG

VÀI BÀI THƠ CỦA HỮU HOÀNG

Bui Ca

 

Toc Nghin Thu

Con Do Dam Me

                                                                                                                               (Sưu tầm)

BÀi 15.

           TRANG THƠ NGẪU HỨNG     

ChỮ ThƠthƠ

                                                              Đêm Xuân 
                    đọc thơ   HOA VINH 

Hai bài thơ sau đây là của ông Hoàng Hữu Vinh (Đ.15), bút hiệu là Hoa Vinh.

 Ông từng xuất gia đi tu, đi dạy học rồi đi lính trong quân đội Sài gòn cũ. Sau 1975 lại đi làm rẫy ở Long Khánh tỉnh Đồng Nai và mất vào năm 2002. Cuộc đời lận đận, tâm sự u ẩn, chẳng biết làm chi hơn là làm thơ. Thơ nghiệp dư, tác giả không tên tuổi nhưng trong thơ vẫn thấp thoáng nét tài hoa của những tâm hồn nghệ sĩ.   
    Vừa qua trong bài viết cho cuộc thi tìm hiểu họ Hoàng, bác sĩ Hoàng Hữu Hóa đã có đọan trích dẩn hai bài thơ nầy khi luận về người giàu và người nghèo. Chúng tôi xin tạm gác chuyện giáu nghèo để giữ lại cái chất thơ,có vị ngọt lẫn vị đắng.

     Đêm Gặp Mặt Cuối Năm

          Không hiểu vì sao mình đến đây
Đêm cuối năm gặp mặt nơi nầy
Hội tụ dăm ba thằng bỏ xứ
Rượu uống nhiều mà sao không say?

 Núi ơi sao núi gọi Chứa Chan
Một vùng khô héo đá trơ gan
Chùa ơi sao chẳng nghe chuông vọng
Tiếng Cuốc đêm trường vẫn thở than?

          Mai này dù có ở rừng xanh
Nhớ viên cuội nhỏ ở cuối ghềnh
Một sớm mưa xuân xanh ruộng nẻ
Lối cũ ta về sương long lanh.

                                                                                          (  Viết thời làm rẫy ở Gia Rai – Long Khánh)

 MAI

Hỏi Mai, Mai vẫn hẹn
Hẹn mãi để anh chờ
Em ơi có bao giờ
Hoa Mai hai lần nở?

Gương xưa dù có vỡ
Áo cũ vẫn còn hơi
Tình anh dù có lỡ
Vẫn đợi chờ em ơi!

Mai! Mai! Sao vẫn hẹn?
Anh sợ e tình già
Áo xưa e sờn cổ
Không có để cài hoa.

SON TƠ
___________________    HOÀNG HỮU CƯƠNG

 Ai đi dệt mộng lành
Tôi về sau mái tranh
Lòng mưa nay đã tạnh
Hồn vui lên mông mênh

              Ngày xưa tôi còn nhỏ
Tôi yêu dây pháo hồng
Ngày nay xuân qua đó
Tôi yêu nắng vàng trong
Xuân ngời lên mái rạ
Xuân cười trong muôn nhà
Tình đời tươi hoa lá
Màu trời xanh bao la…

Nghe gì đâu tiếng hận
Thuở gió lùa phên tre?
Trời hôm nay hương phấn
Xuân trong tôi lại về
Tóc xanh vẫn còn xanh
Ta vui trong mộng lành
Đầu xuân nghiêng chén rượu
Kể nhau nghe tâm tình

Mai vàng muôn lối ngõ
Bướm trắng rập rờn bay
Vườn xuân bao em nhỏ
Cười reo xác pháo bay
Hôm nay căn nhà nhỏ
Tình xuân vui đơn sơ
Thời gian như nín thở
Để nghe mấy vần thơ

Xuân này không tiếng súng
Chỉ tiếng pháo giao thừa
Biên cương bình minh sáng
Nắng lên trong gió đưa

Kẻ huy hoàng nhung lụa
Giờ đã biết lắng tai
Để nghe lòng mở cửa
Thương ai trong đêm dài
Đêm nay lòng xao xuyến
Xuân lên trên bài thơ
Gửi đây niềm thương luyến
Với mùa xuân son tơ

(HHC – Trích tập san ẤM CÚNG -báo Xuân gia đình họ HOÀNG năm Mậu Tuất – 1957 do Hoàng Hữu Chỉ chủ biên)

Thơ tình  HOÀNG HỮU BẢN

                                                                                                                                               Khánh Loan giới thiệu

Hoàng Hữu Bản (Đ.16) sinh năm 1945. Tốt nghiệp Sư Phạm Qui Nhơn. Dạy học ở Quảng Trị, sau chuyển ra Bình Thuận. Hiện đã nghỉ hưu và sống với gia đình tại Phan Thiết. Ít ai biết rằng ông là tác giả của hằng trăm bài thơ cũ có, mới có – làm thơ chỉ để thù tạc với bạn bè.

Vào cuộc phong trần ba chìm bảy nổi, thơ ông thường quặn thắt nỗi nhớ quê nhà, nỗi đau thế sự. May thay, ông vẫn không quên sống bằng tình yêu trong thơ. Và khi chuyện trò với tình yêu, thơ ông rất trẻ. Đọc chùm thơ lục bát Không Đề sau đây, có người nghi hoặc hỏi rằng: phải chăng Hoàng Hữu Bản vẫn đang yêu?

Chùm thơ lục bát

 KHÔNG ĐỀ

  1.            Ta còn còn mãi bên nhau
              Trời thơ lửa chớp vẫn màu nguyên trinh
              Ngàn phương bóng rũ nguyên hình
              Bốn phương tám nẽo – ta mình một phương.
  2.  
                    Hỏi em còn có gì không
                    Bến xưa dầu lở, bờ sông cát bồi
                    Trăng xưa từ độ luân hồi
                    Suối tình vẫn chảy, lòng phơi đá vàng.
                    Ta còn lụy nghiệp trần gian
                    Cười trong nước mắt, tình tan bóng chiều.

III.Em còn có nhớ tên tôi?
Hay tình đã khép giữa trời nắng mưa
Buổi thanh xuân mắt dại khờ
Tuổi màu xanh trắng ngồi mơ mộng tình
Anh còn dép lốp hàn sinh
Còn mo cơm vắt cho mình cho ta
Hay hương phai đã nhạt nhòa
Để lòng hóa đá cho hoa lúa vàng
Em ơi tình mãi còn đang
Cây còn bám đất còn trang sách hồng
Em còn có nhớ anh không
Tôi còn có nhớ tôi không?

HOÀNG THI TÂM
 Giai điệu bốn câu

                                                                                                                                                              Lan Đình giới thiệu

 

    Tên thực là Hoàng Hữu Trọng Tâm – Đ.17. Sinh năm 1954. Sau năm 1975 theo gia đình đi lập nghiệp ở vùng kinh tế mới Suối Nghệ – Bà Rịa. Ở đây ông sinh sống bằng nghề nhiếp ảnh, quay phim. Đây là loại lao động nghệ thuật mang lại cho cuộc sống rất nhiều cảm hứng.Và ông đã dành một phần cảm hứng đó cho thơ và nhạc.

 

Năm 2001, đặc san NẾP NHÀ đã giới thiệu ca khúc Thương nhớ trường Nguyễn Hoàng của Hoàng Thi Tâm. Trong một dịp khác chúng tôi sẽ trở lại với Hoàng Thi Tâm nhạc sĩ. Còn hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu một góc nhìn khác: Hoàng Thi Tâm thi sĩ. Ông là Hội viên hội Văn Nghệ Bà Rịa – Vũng Tàu. Từ miền Đông đất đỏ xa xôi, ông cùng bạn bè thành lập một Thi Đàn tập họp được 28 nhà thơ đồng điệu tài hoa. Năm 2001, nhóm của ông đã xuất bản tuyển tập thơ Giai Điệu Bốn Câu (Nxb Trẻ -TP.HCM)

Sau đây là một số bài thơ của Hoàng Thi Tâm, trích từ Giai Điệu Bốn Câu nói trên

   MƠ XA
   Thoáng hôm qua, thoáng hôm nay
Thương con chim nhỏ muốn bay qua đồi
Tiếng ca chưa đọng thành lời
Chuông khuya chợt điểm
Dặm đời còn xa!

   NGỠ NGÀNG
   Xôn xao lụa thắm bên cồn
   Nắng chưa lên bến, đã dồn âm vang
   Sông xưa, sóng mới ngỡ ngàng
   Đâu rồi Áo Trắng –
   Đò ngang Áo Hồng

THU TÌNH TỰ
Ta dáo dác đi tìm trong nắng nhạt
Một sắc thu – chưa tím cuối chân trời
Em đứng lại bên ta – cười với gió
Một cánh gầy vừa hé nụ trên môi.

DÁNG XƯA
Dáng xưa một mảnh trăng gầy
Nụ cười giấu nửa tóc mây lưng trời
Em về – bóng lẻ bờ đôi
Trắng đêm bến hẹn, tim soi dấu mình.

Mau Cnc Hoa La Trang Tri 135038

Bài 16. 

Bích Khê

Đường xưa lối cũ…

                                                                                                                                                                  Phạm Xuân Dũng 

     Nằm bên cạnh dòng sông Thạch Hãn, làng Bích Khê từ lâu được biết đến như một làng cổ trên đất Quảng Trị, một nơi chốn được xem là địa linh nhân kiệt nổi danh. Làng quê hiền hòa giữa vùng đồng bằng Triệu Phong qua mấy trăm năm tuổi vẫn luôn bâng khuâng gợi cội nhớ nguồn.

Nói đến Bích Khê là nói đến một vùng quê con người trung hậu, can đảm, hiếu học, tài hoa. Tổ tiên dân làng này theo Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào đây lập nghiệp từ thuở ban sơ năm 1558. Ba họ chính đầu tiên khai lập làng Bích Khê là họ Lê, họ Đỗ và họ Hoàng vẫn tồn tại, sinh sống cho đến ngày nay tạo nên gốc rễ của một thôn trang tên tuổi. Người Bích Khê dù làm ruộng hay thợ thủ công, dù chân lấm tay bùn, chơi đàn theo nghiệp tổ hay miệt mài đèn sách vẫn luôn gắng gỏi, làm hết sức mình để bồi đắp cho đời như phù sa dòng Thạch Hãn.

Chúng tôi đến thăm ngôi nhà ông Đỗ Văn Thiện, một nghệ nhân cổ nhạc đã ngoài tám mươi tuổi. Nghề nhạc Bích Khê lưu truyền đã được gần mười đời, được mọi người gần xa biết đến. Âm nhạc truyền thống đã thấm đẫm làng quê này trong những dịp lễ hội, phương việc của bà con. Những nghệ nhân cha truyền con nối, mỗi người một vẻ. Sau những lúc hành nghề, họ ngồi lại với nhau ôn luyện từng bản nhạc để rèn luyện tay nghề ngày thêm thành thục. Nhìn họ tập luyện cũng như biểu diễn say sưa, người xem có thể cảm nhận lòng yêu nghề, tâm huyết của các nghệ nhân. Họ diễn xướng không chỉ bằng bàn tay điêu luyện, đôi tai nghề nghiệp mà còn bằng cả tấm lòng giữ lại những gì tinh túy của cha ông. Điều đó đã làm nên một bản sắc độc đáo của một Bích Khê văn nghệ, tài hoa. Điều đáng nói là trong cuộc sống hiện đại hôm nay, nghề nhạc cổ truyền từ chiếc nôi này vẫn luôn được gìn giữ, thăng hoa vì thoải mái hành nghề, sống được nhờ nghề. Ông Đỗ Văn Thiện hào hứng kể về nghiệp tổ lưu truyền cho đến ngày nay được cháu con gìn giữ làm rạng danh tổ tiên, làng mạc.

Nhưng nói gì thì nói không thể không nhắc đến họ Hoàng Bích Khê. Họ tộc này quả thực đã đóng góp nhiều cho quê hương đất nước. Ngày xưa họ này nổi danh khoa bảng, học hành giỏi giang, đỗ đạt làm quan đến chức thượng thư cũng vào hàng khanh tướng. Như trường hợp gia tộc ông Hoàng Hữu Xứng. Sau này những tên tuổi lừng danh trong văn học nghệ thuật như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, hay trong giới doanh nghiệp như doanh nhân Hoàng Kiều đã  được bao người nhắc nhớ. Ông Hoàng Anh, trưởng tộc họ Hoàng Bích Khê tâm sự : “Cho dù con cháu mỗi người mỗi nghề nhưng luôn biết nhớ về tổ tiên, nhớ về bề trên trong mọi sinh hoạt của họ tộc. Đó là điều quý giá được lưu truyền từ xưa đến nay”.Chính họ trong cuộc sống hàng ngày, trong những câu chuyện của bà con lối xóm vẫn được người dân làng Bích Khê trân trọng và tôn vinh đúng mực, tự hào về một vẻ đẹp văn hóa của làng quê. Ông Đỗ Xuân Hiệu, Chi hội trưởng Chi hội người cao tuổi Bích Khê thay mặt dân làng ghi nhận Hoàng tộc Bích Khê là một dòng dõi có truyền thống học hành, làm được nhiều điều có ích cho làng, cho nước. Đó là cống hiến đáng kể của họ Hoàng Bích Khê từ ngày xưa cho đến ngày nay.

Họ Hoàng như đã nói có tiếng khoa cử. Ông Hoàng Hữu Bính từng đỗ tiến sĩ Hoàng giáp dưới triều vua Thành Thái năm 1889. Đang làm quan tuần phủ, chán ghét giặc Pháp nghênh ngang, ông từ quan về làm việc ở Quốc Tử Giám. Được một thời gian thì cũng bỏ về làng sống chờ đợi thời cơ kháng Pháp. Bích Khê lúc ấy được coi là Vườn đào tụ nghĩa tập hợp những người chống giặc ngoại xâm. Không may ông bị bệnh rồi mất tại quê nhà. Con ông Hoàng Hữu Xứng học hành đỗ đạt làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ, giám khảo các kỳ thi hương, thi hội. Trải qua những lận đận quan trường khi vận nước rối ren, ông vẫn được nhìn nhận là một ông quan mẫn cán, thanh liêm, nặng lòng với dân với nước. Ông để lại cho đời sau cuốn sách quan trọng về bản đồ đất nước: “Đại Nam quốc cương giới vựng biên” do ông đứng ra tổ chức biên soạn và phát tâm xây dựng Nghĩa Trũng Đàn, một nghĩa cử sáng ngời sau hơn cả trăm năm- gần đây được các nhà nghiên cứu sử học xem là một dạng “Nghĩa trang liệt sĩ ” đầu tiên được biết trong cả bnước.Nghĩa Trũng Đàn mới vừa nhắc đến là một nghĩa trang đặc biệt do ông Hoàng Hữu Xứng và gia đình tự bỏ tiền mua đất rồi quy tập những thi hài không nơi nương tựa, trong đó có nhiều nghĩa sĩ Tây Sơn chống giặc Mãn Thanh vị quốc vong thân. Đó là nơi yên nghỉ của hàng ngàn linh hồn phiêu dạt tại làng Thạch Hãn gần Thành Cổ Quảng Trị. Việc nghĩa này thật đáng trân trọng xiết bao. Qua hơn một thế kỷ binh đao tao loạn, nghĩa trang này đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử, được bà con Bích Khê đến khói hương, tưởng vọng những người thiên cổ. Những dịp lễ tết, những ngày đại sự Nghĩa Trũng Đàn đã đón những khách gần xa, để cho tâm nguyện vị tha bừng sáng, lan tỏa một tinh thần, đạo lý Việt Nam: thương người như thể thương thân trong tình nghĩa đồng bào. Còn đây văn bia do hậu duệ Hoàng Phủ Ngọc Tường phụng soạn ngợi ca tấm lòng của tiền nhân đối với người đã về với cát bụi trôi sông lạc chợ. Những tấm lòng nhân như thế dù khởi thủy từ xưa vẫn sẽ còn lại mãi mãi với muôn sau.

Đạo nghĩa mà làng Bích Khê dày công tô bồi và trong đó họ Hoàng cũng góp phần bao đời vun đắp hiển hiện trong những nhà thờ họ, thờ chi của họ này. Trước một ngôi nhà thờ Hoàng tộc Bích Khê có hai câu đối nhắc nhở con cháu và mọi người về lẽ sống: “Tri túc tâm thường lạc. Vô cầu phẩm tự cao”, tạm dịch: Biết đủ tâm sẽ vui vẻ, không cầu cạnh, phẩm giá mình tự cao. Thật đáng để đời nay suy ngẫm.Ông Hoàng Hữu Cương hậu duệ Hoàng tộc làng Bích Khê tâm đắc với chuyện họ Hoàng dù khi còn hàn vi hay thành đạt luôn lấy đạo đức làm đầu. Đó chính là vốn quý của dòng họ qua mấy trăm năm.

Dạo quanh làng sẽ thấy dấu ấn của Hoàng tộc Bích Khê. Hầu như vẫn còn nhiều hình ảnh và tư liệu được lưu giữ ở những nơi thờ phụng trang nghiêm. Người đến đây sẽ có dịp hiểu thêm về một dòng tộc từ xưa đến nay nổi danh trong thiên hạ. Hầu như đời nào từ cổ chí kim họ này cũng có người thành đạt và quan trọng hơn là có đóng góp cho quê hương đất nước. Qua hàng trăm năm thế gian biến cải, dòng họ này vẫn giữ được phong độ của mình góp nhân tài vật lực vào công cuộc hộ quốc an dân. Dù làm ruộng hay làm quan, dù ở làng hay xa xứ ai nấy đều giữ được gia phong, tự hào về truyền thống dòng họ của mình ngõ hầu nuôi chí lập thân, lập nghiệp. Đây chính là điểm đặc sắc của Hoàng tộc Bích Khê.

Về Bích Khê không thể không đến thăm nhà lưu niệm bà Hoàng Thị Ái, một bậc tiền bối cách mạng, suốt đời tận hiến cho Tổ quốc, nhân dân được đồng bào, trong đó có các Tổng Bí thư Đảng như Lê Duẩn, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu dành cho nhiều tình cảm đặc biệt. Ngày bà tạ thế, dù được mai táng ở nghĩa trang Mai Dịch tận thủ đô Hà Nội thì con cháu họ Hoàng và dân làng Bích Khê vẫn nghiêng mình tưởng nhớ một người con tận trung chí hiếu của quê hương Quảng Trị. Sự tưởng niệm những người yêu nước như Hoàng Thị Ái, Hoàng Hữu Chấp sẽ vĩnh hằng ở làng quê Việt Nam như Bích Khê và không chỉ Bích Khê.

Trong lịch sử âm nhạc hiện đại Việt Nam, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sinh năm 1929 mất năm 2001 là một chân dung nổi tiếng được hàng triệu khán thính giả hâm mộ nhớ đến bởi những bài hát mang âm hưởng dân gian, chất chứa tình quê, hồn quê lai láng như: “ Gạo trắng trăng thanh,  Trăng rụng xuống cầu, “Duyên quê”, Những ngày thơ mộng…… những ca khúc trở thành tiếng lòng người Việt qua mấy thế hệ. Khi về ngôi nhà thơ ấu kỷ niệm nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sẽ thấu hiểu hơn về nơi chôn nhau cắt rốn của một tài năng âm nhạc. Ngôi nhà hương hỏa tọa lạc ở làng hòa mình giữa thiên nhiên thôn dã chốn quê đã nuôi dưỡng tâm hồn người nghệ sĩ. Này đây trong khu vườn với hoa trái chân quê ở miệt làng đồng bằng trù phú, với cảnh vật an lành như muốn níu chân người thăm viếng. Một mái nhà tranh đơn sơ với những đồ vật lấm láp chân quê của người nông phu thức khuya dậy sớm bạn cùng đồng ruộng quây quần bên nhau trong một không gian đầy ắp quê hương. Chính nơi chốn này đã sinh hạ và dưỡng dục một nghệ sĩ đồng quê đích thực của dân tộc Việt Nam. Những bài hát của ông vẫn vang lên sau lũy tre làng, bên những hàng cau cho dù người sáng tác đã từ lâu đi vào miền thương nhớ. Họ, sau những bận rộn bên cánh đồng làng vào mùa thu hoạch lại gặp nhau trong những ngôi nhà của làng mạc Việt Nam mà hát cho nhau nghe những điều máu thịt mà người nhạc sĩ đã từng gởi gắm. Đó chính là hạnh phúc giản dị mà lớn lao của một đời nghệ sĩ. Ông Nguyễn Hoàn, Phó Giám đốc Sở Thông tin – Truyền thông, Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Quảng Trị đã khẳng định rằng Hoàng Thi Thơ là một nhạc sĩ đa tài, riêng với những đóng góp trong lĩnh vực ca khúc được phát triển từ chất liệu dân ca. Nhạc của ông luôn tràn ngập hình ảnh quê hương như gạo trắng, nước trong, trăng thanh, gió mát… thể hiện một tình yêu làng quê sâu nặng và da diết..

Có một trí thức văn nghệ, một nhà văn hóa hiện đại gốc rễ làng Bích Khê thành danh trong cả nước, đó  là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 nay đã vào tuổi tám mươi. Ông bằng tài, tâm và tình của mình đã viết nên những tác phẩm xứng đáng để đời. Những bài thơ của ông thường bảng lảng khói sương u hoài và chất chứa tâm sự mang đến cho đời một ám ảnh phù dung. Chính ông, bằng văn chương đã chạm khắc nỗi buồn không phải như một thú tiêu khiển mà như sứ mệnh cao cả của nhà văn. Nỗi buồn chân thực của con người trong kiếp nhân sinh qua trang viết của ông đã có một vị trí xứng đáng như nó cần phải thế. Với thể ký, ông xứng đáng kế tục nhà văn lớn Nguyễn Tuân. Ký của ông uyên bác và tài hoa, cảm xúc tự đáy lòng tuôn trào từ một tâm hồn cả nghĩ. Ký của ông viết về nhiều miền quê, trong đó có Quảng Trị đã dành nhiều tâm huyết của người sáng tác. Hoàng Phủ Ngọc Tường và tác phẩm của mình chắc sẽ được nhớ đến dài lâu giữa cuộc đời vốn thường đa đoan, trắc trở. Ông là tấm gương chống đỡ bạo bệnh, vẫn sáng tác ngay cả khi bị liệt nửa người được đồng nghiệp và bạn đọc cả nước khâm phục nghị lực làm việc của nhà văn.Một trong những bút ký vào hàng tuyệt phẩm của ông được đưa vào giảng dạy cho học trò cả nước, đó là tác phẩm nổi tiếng: “Ai đã đặt tên cho dòng sông” viết về sông Hương xứ Huế. Đây là một áng văn thể hiện rõ nét sự đa cảm, uyên bác, tài hoa của nhà văn. Bằng tình yêu quê hương đất nước, tác giả đã truyền cảm xúc của mình đến với nhiều độc giả, đến nhiều lớp học trò qua năm tháng học đường. Chắc chắn trong hành trang tâm hồn mai này của các em sẽ còn đọng lại những tác phẩm như “Ai đã đặt tên cho dòng sông”. Để từ đó bồi đắp tình yêu Tổ quốc Việt Nam trong mỗi con người. Văn chương như thế đâu phải để thù tạc, tiêu dao mà gánh vác tâm hồn của nhiều thế hệ. Đó là văn chương chuyên chú vào đất nước, vào con người luôn rung động trong huyết quản của những ai đã từng đọc một lần. Cô giáo dạy văn Nguyễn Thị Thu Hà, Trường THPT Lê Lợi, TP. Đông Hà xúc động nói rằng mình đã đọc, đã dạy thiên bút ký này rất nhiều lần, nhưng vẫn luôn có cảm xúc sâu xa với vẻ đẹp văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường. Và cô đã truyền ngọn lửa tình yêu văn chương của mình đến với học sinh bằng tất cả sự ngưỡng mộ đối với một văn tài đất Việt.

Qua gần năm trăm năm, làng Bích Khê dường như vẫn thế dù cho biết bao biến thiên vật đổi sao dời. Người quê vẫn sống nhân hậu, vẫn tìm đến nhau trong tình cảm tối lửa tắt đèn. Qua bao nhiêu gian khó, bà con lại được sống trong cảnh thanh bình, no ấm, yên vui từng mơ ước. Một làng quê tưởng rất đỗi bình thường, giản dị mà chứa đựng biết bao điều cần ghi tạc, sinh thành giáo hóa nên những người con làm rạng danh quê hương xứ sở. Nhưng dù cho làm gì, đi đâu, về đâu người Bích Khê vẫn luôn hướng về cội nguồn để nhắc nhau không quên, không bao giờ được quên cội nguồn, vẫn nhớ mãi đường xưa lối cũ.

P.X.D

(Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 264)

 

Dxloicu

 

 

 

 

 

 

Bài 17

         NHẠC SĨ HOÀNG THI THƠ  
         50 NĂM VĂN NGHỆ 

 

ThithƠ Tời Trai Trẻ

                                                                                    

  Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ
  Sinh ngày 16-7-1929 tại Bích Khê, Triệu Phong, Quảng Trị
Mất ngày 23-9-2001 tại nhà riêng ở Glendale (South CA)
An táng tại vườn Vĩnh Cửu – Nghĩa trang Peek Familly ở Orange County (CA).
Mộ ở nhà quàn Heritage memorial Service
17712 Beach Boulevard Hunlington Beach – USA.

Trong gia tộc, ông thuộc đời 14 nên vai vế rất cao, nhiều người phải kêu bằng “Ôông”, bằng cố, vải. Con cháu đời 19-20 thì không biết kêu ông bằng gì nữa. Tuy vậy chúng tôi không hề nghĩ rằng ông là nhân vật thuộc  thế hệ cũ, bởi vì ông là một nghệ sĩ của thế hệ trẻ hôm nay. Ông thực sự luôn luôn trẻ, từ ngoại hình đến tâm hồn.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sinh ngày 16-7-1929. Học tiểu học tại Triệu Phong – Quảng Trị, học trung học tại Huế rồi Hà Tĩnh, vào đại học từ năm 1950 tại trường Dự bị Đại học Liên khu 3-4 tại Thanh Hóa, khoa văn – triết học.

Thời kỳ cách mạng tháng 8-1945, ông gia nhập Đoàn văn nghệ Quảng Trị do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba làm trưởng đoàn.

Tháng 12-1946, kháng chiến bùng nổ, ông cùng với nhạc sĩ Trần Hoàn hoạt động tuyên truyền tại mặt trận Huế. Thượng tuần tháng 12-1947 sau hơn một tháng bao vây quân Pháp tại trường Pellerin và khách sạn Morin, mặt trận Huế vỡ.

Hoàng Thi Thơ cùng nhạc sĩ Trần Hoàn và một số đoàn viên của Đoàn Tuyên truyền kháng chiến Trung Bộ theo các cơ quan đầu não chuyển về Vinh (Nghệ An).

Tháng 5-1947 ông công tác ở báo Cứu Quốc Liên khu 4 do Lưu Quí Kỳ phụ trách, Chế Lan Viên làm trưởng ban biên tập.

Cuối năm 1952 trong một chuyến về ghé thăm gia đình, ông bị Tây bắt và ở tù một thời gian. Sau hiệp định Genève ông sinh sống tại Sài Gòn, dạy sinh ngữ Anh-Pháp ở các trường tư thục và tiếp tục theo đuổi hoài bão sáng tác. Trong hơn 50 năm qua ông làm việc không hề mệt mỏi và để lại một sự nghiệp sáng tác khá đồ sộ, khó có một nhạc sĩ nào sánh kịp.

Hoàng Thi Thơ vốn là nhà soạn nhạc nổi tiếng với nhiều thể loại. Từ nhạc tình cảm đến nhạc dân tộc, dân ca đến nhạc thời trang, đoản khúc đến trường ca, nhạc cảnh đến nhạc kịch. Rất nhiều ca khúc như: Đường xưa lối cũ, Tà áo cưới, Những ngày thơ mộng… là những tác phẩm thịnh hành, có giá trị vượt thời gian, được nhiều người ưa thích.

Nói đến vũ, tên tuổi của Hoàng Thi Thơ đã nổi bật cùng với vũ sư Trịnh Toàn và vũ sư Lưu Hồng trong công trình nghiên cứu và sáng tạo vũ dân tộc, dựng lên các điệu vũ dân gian hấp dẫn và sống động. Những vũ điệu như: vũ múa trống, vũ lên đồng, vũ múa nón, múa xòe, múa koho… đã được trình diễn hầu như khắp thế giới.

Trong lãnh vực điện ảnh, Hoàng Thi Thơ là đạo diễn, sản xuất, viết nhạc đệm, viết chuyện phim, viết đối thoại.Ngoài tài năng đặc biệt trong các lãnh vực nhạc, vũ và điện ảnh, Hoàng Thi Thơ là một nhạc sĩ duy nhất soạn và viết nhạc kịch.Vở nhạc kịch đầu tiên Từ Thức lạc lối bích đào của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ ra mắt năm 1963; rồi đến vở Dương Quý Phi trình diễn năm 1964, và vở Cô gái điên năm 1966.Đến năm 1968 khán giả Sài Gòn được thưởng thức vở nhạc kịch thứ tư của Hoàng Thi Thơ: nhạc kịch Ả đào say.Nhạc kịch Ả đào say gồm hơn 50 nét nhạc khác biệt, là tim óc của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sau 6 tháng miệt mài sáng tác, xây dựng cốt truyện, soạn nhạc, viết lời ca, soạn hòa âm, nên khi ra mắt đã được mọi tầng lớp quần chúng, từ tri thức đến bình dân, nhiệt liệt hoan nghênh.

Hoàng Thi Thơ cũng là người nhạc sĩ duy nhất thành lập những Đoàn Văn Nghệ Trình Diễn quy mô để giới thiệu tinh hoa văn nghệ Việt Nam với khán thính giả trong nước và ngoại quốc. Năm 1961, Đoàn Văn Nghệ Việt Nam được thành lập, gồm 100 nghệ sĩ tên tuổi. Năm 1967, Đoàn Văn Nghệ Maxim, gồm 70 diễn viên ca-vũ-nhạc-kịch, ra mắt tại Ca Vũ Kịch Trường Maxim và hoạt động cho đến tháng 4-1975.

Tháng 4 năm ấy, đoàn văn nghệ của ông đang lưu diễn ở Nhật Bản thì xảy ra sự kiện lịch sử ngày 30-4-1975. Ông không thể trở về nước được và từ đó đành phải tìm cách thích ứng để tiếp tục cuộc sống và sáng tác ở Mỹ.

Mãi đến năm 1993, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ mới có cơ hội trở về thăm quê nhà. Ông ghé thăm lại nhà hàng Maxim, nơi xưa kia là sân nhà của đoàn văn nghệ Maxim gồm cả trăm nghệ sĩ biểu diễn mà ông là trưởng đoàn. Maxim nay đã thành nhà hàng Kim Sơn. Ông có vẻ không ngạc nhiên gì mấy về sự đổi thay đó. Nhưng khi về làng Bích Khê, đứng trên nền đất cũ của nhà thờ họ, nhà thờ chi, ông đã khóc ròng. Gần 40 năm trước, sau hòa bình lập lại 1954, ông cũng đã có một chuyến hành hương về làng như vậy. Sau chiến tranh, mẹ già đã qua đời, em gái đã sang ngang – chắc hẵn ông cũng đã một lần rơi lệ. Từ những giọt nước mắt ấy, mỗi giọt rơi xuống thành một nốt nhạc xôn xao, nghẹn ngào, nức nở và đó là giai điệu của khúc cầm phổ Đường xưa lối cũ, một trong những ca khúc vượt thời gian của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Lần hành hương này (1993) ông khóc nhiều hơn nhưng lần nầy nước mắt chỉ là nước mắt. Người ta nói cuộc sống ở bên Mỹ không thiếu thứ gì cả. Nhưng ở những nghệ sĩ sáng tác như ông, chắc phải cảm thấy còn thiếu một thứ và là thứ rất quan trọng đó là thứ hương vị đích thực của quê nhà, làng họ.

Tôi có một bà chị có chồng là bộ đội Việt Minh mất tích trong kháng chiến chống Pháp. Có lần nghe câu hát:
Đêm hôm qua anh trở về, về bên sông, sông mờ mờ. Mặt ngước nhìn, nhà ta chìm trong khói súng thù. Đêm hôm nao, lòng biết lòng, nghe tin chồng về bên sông. Lòng biết lòng nhưng mong gì thấy đôi mắt chồng…(Hoàng Thi Thơ – Tình sầu biên giới)

Chỉ nghe mấy câu hát ấy mà chị tôi đã khóc.

Lại có lần nhân kỳ nghỉ hè về thăm làng, dự một buổi liên hoan văn nghệ ngoài bãi cỏ trước đình làng. Đêm trăng sáng, gái trai làng vui vẻ vỗ tay hát:
Trong đêm trăng, tiếng chày khua. Ta hát vang trong đêm trường mênh mang. Vô đây em, dù trời khuya anh nhớ đưa em về…

Trong bối cảnh này, tôi bỗng nhận ra rằng bài Gạo trắng trăng thanh này dễ thương lạ lùng. Khó có nhạc sĩ nào tìm được một giai điệu thích hợp với tâm hồn mộc mạc của trai gái làng tôi hơn là những Gạo trắng trăng thanh, Trăng rụng xuống cầu, Duyên quê của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Thuở ấy nếu không những ca khúc của ông,, không biết những người bạn trẻ của tôi ở làng Bích Khê sẽ hát nhạc gì?

 

Htt 2

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và vợ là ca sĩ Thúy Nga (ảnh chụp năm 1989)

     Ông Hoàng Thi Thơ kết hôn với ca sĩ Thúy Nga – theo ngôn ngữ địa phương Quảng Trị trong gia đình họ Hoàng gọi là “mụ” Thúy Nga. Nhưng sợ “mụ” không quen nghe cái tiếng khó nghe đó, tôi xin gọi là bà. Cho đến nay tôi chưa bao giờ được gp bà, ngoại trừ trên màn ảnh hay trên sân khấu. Nhưng lâu nay các tiệm cho mướn băng vidéo ở thành phố Hồ Chí Minh đều có phát hành những cuộn băng ca nhạc Thúy Nga Paris. Ở Việt Nam, nhiều người tưởng rằng bà Thúy Nga và tất nhiên cả nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là người sản xuất những cuốn băng này. Có lần tôi xem băng, thấy ông Hoàng Thi Thơ xuất hiện trên sân khấu qua lời giới thiệu của Nguyễn Ngọc Ngạn và người đẹp Nguyễn Cao Kỳ Duyên. Bên dưới là một đám đông quần chúng khán giả người Việt tha hương. Tôi thầm hỏi: liệu những người này có phải là những khán thính giả đích thực của ông không? Ai cũng vỗ tay cười hớn hở, nhưng sẽ không có ai khóc những giọt nước mắt “Tình sầu biên giới” như chị tôi, cũng sẽ không thể có nụ cười mộc mạc giống nụ cười gạo trắng trăng thanh của trai gái làng tôi. Lần gặp lại ông ở thành phố Hồ Chí Minh, tôi hỏi ông:

– Cháu có xem những cuộn băng Thúy Nga Paris, sao cháu không hề nhận ra phong cách nghệ thuật mang dấu ấn của Hoàng Thi Thơ trong đó chút nào?

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ giật mình nói:

– Mô có! Cả ôông lẫn mụ Thúy Nga đều không liên quan gì đến việc sản xuất loại băng này. Thúy Nga Paris là một người khác. Bà này là vợ của ông Tô Văn Lai. Hai ông bà đã kinh doanh băng đĩa ở Sài gòn từ năm 1972.

Té ra lâu nay ông bị nghi oan. Đến con cháu trong nhà còn chưa hiểu, trách chi người ngoài.

Tôi nhận ra rằng nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ tuy sống ở Sài Gòn và ở nước ngoài rất lâu nhưng giọng Quảng Trị của ông vẫn còn “gin”, không hề pha trộn và đó chính là giọng Bích Khê. Trong ông có những thứ gắn chặt với họ hàng, bà con làng nước không thể thay đổi được. Lại nhớ trong bài hát “Những ngày thơ mộng” của ông có câu:

…“Và cố đi tìm, đàn bé nô đùa ngoài đồng lúa hay trong sân chùa”…

Đến một chút văn ảnh bé nhỏ như vậy mà ông còn biết chắt chiu cố đi tìm lại và than thở Tìm đâu biết tìm đâu, đâu giờ – huống nữa là những thứ quí hơn, lớn hơn. Nên chúng cháu tin rằng cuối cùng rồi ông cũng sẽ tìm lại được cho mình những gì đã mất… nhất là những đêm Gạo Trắng Trăng Thanh, Những Ngày Thơ Mộng những Đường xưa lối cũ mà ông đã đi qua trong những tháng năm trai trẻ.

                                                                                                           HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN

  Hoàng Thi Thơ và những ca khúc vượt thời gian:

       Trong số  các fans của Hoàng Thi Thơ có Lê Thanh Hà, cháu gọi nhạc sĩ bằng cậu ruột. Từ thưở còn đi học, Lê Thanh Hà đặc biệt ưa thích các ca khúc Đường Xưa Lối Cũ, Những Ngày Thơ Mộng, Tà Áo Cưới… Trong dịp lễ hiệp kỵ năm 2010 tại nhà thờ Chi ở làng Bích Khê, Thanh Hà từ Hoa Kỳ đã kịp về dự. Đêm ấy, bà con họ Hoàng và có lẽ cả vong linh cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ… đều đã được thưởng thức giọng ca nghẹn ngào, xúc động qua những ca khúc gắn liền với tuổi thanh xuân của bà. Mặc dầu Lê Thanh Hà thường khiêm tốn, không nhận mình là ca sĩ nhưng cho đến nay nghệ thuật biểu diễn của bà vẫn còn đầy đủ phong độ chuyên nghiệp và chất giọng truyền cảm của bà khi thể hiện các ca khúc của Hoàng Thi Thơ thì dầu là ca sĩ chuyên nghiệp cũng chưa chắc có thể sánh được.

 

Gạo trắng trăng thanh – Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết

 

TRĂNG RỤNG XUỐNG CẦU- Như Quỳnh ca

https://www.youtube.com/watch?v=EUVJR2XF7po

 

 

 Violin

 

 

 

 

 

 

 

Bài 18

Những bài hát về họ Hoàng 

Năm 2001, đại hội họ Hoàng lần II được tổ chức trọng thể  trong những ngày đầu Xuân ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Lúc bấy giờ, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đang ở Hoa Kỳ, vì lý do sức khỏe không về dự được. Nằm trên giường bệnh, ông đã sáng tác bài Hát  cho họ Hoàng, ta hát cho ta” và tự tay chép lên giấy gửi tặng đại hội. Đây là bài hát đầu tiên về họ Hoàng và cũng là tác phẩm cuối cùng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ bởi vì chỉ mấy tháng sau, bệnh ông trở nặng và qua đời tại nhà riêng ở California.

Ngoài ra còn có Hoàng Hữu Lộc (Đ.16) và con trai là Hoàng Hữu Tân (Đ.17) – mỗi người cũng đã viết một ca khúc về họ Hoàng. Cả 3 ca khúc của 3 tác giả trên đây đều đã được  biểu diễn nhiều lần dưới dạng live-show trên sân khấu văn nghệ vào các dịp họp mặt của bà con họ Hoàng. Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm Hát cho Họ Hoàng, Ta Hát Cho Ta của Hoàng Thi Thơ qua giọng ca của nam ca sĩ Đông Quân, cháu ngoại Đ.17 – một giọng ca vàng của Đài Truyền Hình TP.HCM

Di cảo của Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ

Hát cho Họ Hoàng – Ta hát cho ta – Ca sĩ Đông Quân

Di cảo của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ.

                                                                                              GIA ĐÌNH NHẠC SĨ 

HOÀNG HỮU LỘC và HOÀNG HỮU TÂN

               *  HOÀNG HỮU LỘC ( Đ16)

là nhạc sĩ-nguyên Trưởng Ty Văn Hóa Thông Tin huyện Vĩnh Linh-Quảng Trị.Ông là tác  giả nhiều ca khúc nhạc đỏ thời chiến tranh chống Mỹ.Ngoài ra ông cũng có một sáng tác dành riêng cho họ Hoàng.

 

              * HOÀNG HỮU TÂN 

                  Hoàng Hữu Tân – Đ.17. Sinh năm 1972. Con trai đầu của nhạc sĩ Hoàng Hữu Lộc. Tốt nghiệp Nhạc viện Huế. Phó trưởng khoa Nhạc – Họa trường CĐSP Quảng Trị -Tiến sĩ ngành Quản lý Giáo Dục.Có một bà xã và hai con, đúng theo qui định của nhà nước. ông. Trong nhiều năm qua, ông cùng nhạc sĩ Hoàng Hữu Lộc đã tích cực tham gia sáng tác, tổ chức dàn dựng nhiều chương trình sân khấu văn nghệ phục vụ các ngày lễ lớn của họ Hoàng tại làng Bích Khê. Phần lớn nghệ sĩ biểu diễn trong ban ca nhạc của ông đều là những học trò ưu tú do ông đào tạo và huấn luyện. Hoạt động này đã làm cho hình ảnh lễ hội của họ Hoàng thêm phần đặc sắc, chuyên nghiệp và trẻ hóa rất nhiều.

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu ca khúc Tự hào dòng máu của ta -một sáng tác mang tình cảm và niềm tự hào của thế hệ kế thừa ưu tú của giatộcNhạc và lời của Hoàng Hữu Tân – do các học trò của ông biểu diễn.

Ông Bà HOÀNG HỮU LỘC

                                                                                                                                 Nhạc sĩ HOÀNG HỮU TÂN