Văn Hóa Văn Nghệ

Bài 28

CÓ BA CÔ GÁI HỌ HOÀNG NHƯ THẾ

3cogai

     Từ nhỏ tới lớn họ chưa hề quen biết nhau. Nhân một ngày giỗ lớn của gia tộc tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, họ đã gặp nhau và nhìn bà con. Cả ba đều là con gái họ Hoàng, làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Đất nước rộng lớn mà lại trải qua hàng chục năm chiến tranh chia cắt, phần lớn những người họ Hoàng cũng như những gia tộc khác đều sống xa quê hương. Mỗi gia đình một hoàn cảnh, một lối sống đôi khi rất cách biệt. Nhưng không hề gì. Mùa xuân của đất nước hòa bình thống nhất luôn luôn là nơi gặp gỡ lớn của tuổi trẻ nhất là những tuổi trẻ tài năng. Với họ, hãy còn rất nhiều mùa xuân ở trước mặt.

                                               HOÀNG THANH TRANG (SINH NĂM 1980)

           ĐẠI KIÊN TƯỚNG QUỐC TẾ MÔN CỜ VUA

Bắt đầu chơi cờ vua từ 5 tuổi, nhiều lần vô địch hạng dưới 11 tuổi ở Hà Nội, Trang là con gái ông Hoàng Thanh Chương, Tiến sĩ toán học, công tác tại Đại sứ quán Việt Nam tại Hungari và là cháu nội của ông Hoàng Hữu Kình, một tử tù bị đày đi Côn Đảo và đã vượt ngục trong thời kỳ Pháp thuộc. Năm lên 10 tuổi, Trang theo bố sang cư trú ở Hungari – một trong những cường quốc về môn cờ vua. Công ty cờ vua của Hung hàng năm thường tài trợ cho giải cờ vua ở Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới. Tại xứ sở cờ vua này, Hoàng Thanh Trang đã hai lần đoạt huy chương (bạc và vàng) giải quốc gia hạng dưới 11 tuổi. Năm 12 tuổi, đoạt huy chương đồng giải cờ vua thế giới dành cho thiếu niên. Để giúp Trang tiến xa hơn nữa, bố Trang mời thêm những huấn luyện viên quốc tế giàu kinh nghiệm như các đại kiện tướng Lengyel, Levente, Gyogo thay nhau huấn luyện cho Trang theo những chương trình chặt chẽ. Theo các huấn luyện viên thì lúc này, Trang đã đầy đủ điều kiện để trở thành đại kiện tướng quốc tế, nhưng danh hiệu này phải được khẳng định qua thi đấu. Trong cuộc thi đấu ở châu Âu từ tháng 7 đến tháng 9 – 1995, Trang đã chính thức được phong danh hiệu đại kiện tướng quốc tế.

Cuối năm 1995, Trang được Tổng cục TDTT cử đi tham dự giải vô địch đồng đội cờ vua châu Á diễn ra ở Singapore từ ngày 13 đến 24 – 12. Đội nữ Việt Nam, ngoài Hoàng Thanh Trang còn có Mai Thanh Hương, Nguyễn Thị Tường Vân và Nguyễn Thị Thuận Hóa. Tham dự giải này có khoảng 30 đội nam nữ, trong đó đội tuyển Việt Nam – được đánh giá là một trong những đội mạnh nhất trong khu vực. Kết quả thi đấu giải toàn đội cờ vua châu Á: Việt Nam đoạt hai huy chương bạc, bốn huy chương đồng. Trong đó Hoàng Thanh Trang đoạt một giải huy chương bạc cá nhân. Ban tổ chức quyết định tặng thêm cho đội nữ Việt Nam một huy chương vàng, đội nam một huy chương bạc, tính riêng các đội trong khu vực ASEAN.

Cúp cờ vua Thế giới lần I:

HOÀNG THANH TRANG

THẮNG ĐƯƠNG KIM VĐTG XIE JUN

Httrang 1

HOÀNG THANH TRANG

Ngay chiều kỷ niệm 55 năm Quốc khánh 2-9, nữ kỳ thủ Hoàng Thanh Trang (ảnh) đã xuất sắc giành chiến thắng trước đương kim vô địch thế giới Xie Jun (Trung Quốc) ở lượt đấu thứ hai Cúp cờ vua thế giới diễn ra tại Thẩm Dương (TQ). Đây là chiến thắng rực rỡ nhất trong lịch sử môn thể thao trí tuệ này.

Cúp cờ vua thế giới 2000 là sáng kiến của FIDE (Liên đoàn Cờ vua thế giới) nhằm tạo điều kiện cho các kỳ thủ hàng đầu gặp nhau. Và FIDE cũng khẳng định cúp này từ nay sẽ trở thành truyền thống; tuy nhiên khác với giả VĐTG là đối tượng thu hẹp hơn. Trong đó, gồm 12 người có hệ số êlô cao nhất thế giới, một số ĐKVĐ các châu lục và một số nhà vô địch trẻ thế giới, sao cho số lượng chỉ dừng lại ở 24 kỳ thủ nữ. Với những chỉ tiêu đó, làng cờ VN chỉ có Hoàng Thanh Trang được mời tham dự nhờ danh hiệu vô địch U-20 thế giới năm 1998.

24 kỳ thủ có mặt tại Thẩm Dương được chia làm bốn cảng thi đấu vòng tròn. Trang với hệ số êlô 2.448 (hạt giống số 14 của giải) rơi vào bảng D, được đánh giá nặng nhất với Xie Jun (ĐKVĐ thế giới – ảnh, đã bốn lần giữ danh hiệu này – hệ số êlô 2.542) Wang Lei (Trung Quốc, 2.495), Natalia Zhukova (Uctaina – ĐKVĐ châu Âu, 2.471) và Hernandez Yakira (Mêhicô), Irina Krush (Mỹ gốc Nga). Sau vòng đấu bảng, tám đấu thủ đứng đầu bốn bảng sẽ lọt vào tứ kết đấu loại trực tiếp. Theo mã số đã sắp sẵn của FIDE hai đấu thủ đứng đầu bảng D sẽ đấu chéo với bảng B.

Ngay ván đầu tiên diễn ra vào chiều 1-9, hầu hết các kỳ thủ đều tỏ ra dè dặt nên 8/12 ván đấu ở giải nữ đã bất phân thắng bại (trong đó có ba ván của bảng D). Có thể nói đây là một khởi đầu không mấy thuận lợi cho Trang khi đối thủ mà cô phải chia điểm la Irina Krush, người hai năm trước chỉ đoạt giải HCĐ U-20 thế giới, trong khi Trang vô địch giải này. Nhưng chuyện kỳ diệu đã đến ở ván thứ hai diễn ra chiều 2-9. Sau 29 nước đi kéo dài trong 150 phút, ĐKVĐ thế giới Xie Jun đã phải bắt tay chịu thua Hoàng Thanh Trang. Giây phút này sẽ mãi mãi được ghi vào bảng vàng lịch sử thể thao VN nói chung và cờ vua nói riêng. Thừa thắng xông lên, Trang đã thi đấu hết sức tự tin trong ván thứ ba và hạ tiếp đối thủ người Mêhicô là Hernandez Yadira. Như vậy, sau ba lượt đấu, Hoàng Thanh Trang cùng Natalia Zhukova (Ucraina) đang tạm dẫn đầu bảng D với 2,5 điểm.

BÌNH LUẬN CỦA CÁC CHUYÊN GIA CỜ VUA VN:

Tổng thư kí liên đoàn Cờ VN Đặng Tất Thẳng: Trước hết, với tư cách một người VN, tôi rất tự hào. Vì từ khi nổi danh đến này, số lần thất bại của Xie Jun có thể đếm trên đầu ngón tay. Mặc dù vậy, tôi và một số người khác am hiểu về cờ vua ở VN đã chờ đón giây phút này khá lâu. Bởi trước khi thắng Xie Jun, Trang đã có hai lần gặp đối thủ lừng danh người TQ này và đều hòa dù cầm quân đen: một lần ở giải Olympic cờ vua thế giới năm 1994 tại Matxcơva, và một lần tại Giải vô địch châu Á 1995. Lần này Trang cầm quân trắng và chiến thắng là hợp lý. Theo đánh giá của tôi, sức cờ hiện nay của Trang thuộc vào trong tốp mười nữ kỳ thủ hàng đầu thế giới, mà trong tốp đó thắng qua lại nhau là chuyện bình thường. Theo tôi, Trang có nhiệu hy vọng đi vào sâu ở cúp thế giới lần này.

Trưởng bộ môn cờ TP. HCM Nguyễn Phước Trung: Tôi thường xuyên theo dõi thông tin cờ vua trên mạng Internet, và tối 2 – 9 đã hết sức xúc động khi thấy kết quả Trang thắng Xie Jun. Theo tôi, Xie Jun đã sai lầm ở nước đi thứ 11 dẫn đến yếu thế cờ, và Trang đã thể hiện được sự nhạy bén của mình khi khai thác đúng sai lầm của đối phương…

HUY THỌ -(Báo Tuổi Trẻ)

                                                                              Thanh Trang Tại Đại Hội Tdtt Toàn Quốc 2014.

Hoàng Dạ Thi Và Hoàng Thanh Trang

   Hdathi Phvhang

                                                      HOANG DẠ THI và nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng

 HOÀNG DẠ THI (SINH NĂM 1977)- 

    XUẤT BẢN TẬP THƠ NĂM 10 TUỔI

     Năm bảy tuổi đã được các cô chú ở Hội Văn nghệ Thừa Thiên – Huế phát hiện năng khiếu về thơ. Tập thơ Cái chuông vú (Nhà xuất bản Kim Đồng – Hà Nội – 1987) được xem là tác phẩm đầu tiên. Tập truyện ngắn Pê Lê Trắng được NXB Kim Đồng tặng hai giải thưởng: giải tác giả trẻ tuổi nhất (1994) và giải sáng tác dành cho thiếu nhi (1995). Hiện Thi đang học năm thứ nhất Khoa Ngữ văn – Báo chí Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.

Hoàng Dạ Thi là cô gái có cá tính mạnh mẽ. Cô âm thầm viết truyện ngắn Pê Lê Trắng một mình và lén lút cất giấu bản thảo trong hộc bàn như giấu quyển nhật ký. Bố mẹ (Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ) phát hiện, đòi xem để “biên tập” giùm nhưng Dạ Thi dứt khoát không cho xem. Rất sợ chụp hình để đưa lên báo. Rất ghiền xem bóng đá và mê nhạc Beatles một cách “quằn quại”.

Trước đây Dạ Thi thường cộng tác với Báo Hoa Học Trò và NXB Kim Đồng ở Hà Nội. Phải nói chính NXB Kim Đồng đã chắp cánh cho cô. Nay cô đang sống ở thành phố Hồ Chí Minh và không ai nghi ngờ rằng sắp tới cô sẽ tiếp tục cộng tác với NXB và các tờ báo ở đây. Cô còn trẻ, mà thành phố này thì chẳng đã được nhạc sĩ Trần Tiến đặt tên cho là thành – phố – trẻ đó sao?

Da Thi Va Tap Tho 1

Hoàng Dạ Thi và tập thơ Cái chuông vú.

HOÀNG BÍCH HOÀI ANH –

THỦ KHOA ĐẠI HỌC MỸ THUẬT HÀ NỘI

Hoaianh

Triển lãm của Hoài Anh

   Cũng như Thanh Trang, Hoài Anh thuộc gia đình cách mạng, tập kết ra Bắc. Cô nói giọng Hà Nội ngọt lịm. Tốt nghiệp thủ khoa Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội khóa 1992 được xếp hạng xuất sắc với tác phẩm Ô-ten-lô.

Ra trường, cô may mắn hơn nhiều họa sĩ trẻ khác, tìm được việc làm thích hợp. Sở trường của cô là tạo mẫu thời trang trên nền lụa tơ tằm, đồ họa trên máy vi tính, thiết kế sách báo… Hoài Anh rất thành công trong nghệ thuật vẽ biểu trưng (logo), từng đoạt giải nhất trong cuộc thi vẽ biểu trưng của Hiệp hội Nuôi trồng Thủy Đặc sản Việt Nam (VINACULAS), Xí nghiệp Chế biến hạt điều…

Ước mong của Hoài Anh là tự mình mở một xưởng vẽ, một phòng tranh để giới thiệu những tác phẩm của mình. Cuối năm 1995, Hoài Anh khai trương phòng tranh Vạn Xuân tại nhà riêng (số 109 Hoàng Hoa Thám, quận Tân Bình) để chuẩn bị tạo một bước chuyển biến mới trong mùa xuân Bính Tý. Khách đến thăm phòng tranh đặc biệt ưa thích loại hình tranh Kính với kỹ thuật tinh vi và đề tài đa dạng.

Trên đây là bài viết đăng trên báo Phụ Nữ TP. HCM – Xuân 1997.Hiện nay Thanh Trang đã đoạt nhiều giải quốc tế cao hơn. Dạ Thi đang công tác ở báo Thanh Niên. Còn Hoài Anh hiện là giám đốc công ty Thiết kế Mỹ thuật Anh Hoàng.

                                                                 LỚP LIFE-ART SCHOOL của HOÀNG BÍCH HOÀI ANH

5, HoÀi Anh

LỚP HỘI HỌA LIFE ART…

Hôm nay tại KID CITY ở Q.7, TP.HCM – có thêm một không gian vui chơi bổ ích dành cho lứa tuổi thiếu nhi. Đó là lóp dạy vẽ LIFE-ART SCHOOL vừa mới khai trương. Ở đây bé sẽ được cung cấp những dụng cụ và kiến thức cần thiết để làm quen với bộ môn hội họa. Liệu có ai trong lớp học này sẽ trở thành họa sĩ không? Có thể có và có thể không. Nhưng hãy thử bắt đầu. Cô giáo sẽ phát hiện năng khiếu và dẩn dắt các cháu những bước tiếp theo.

Cô giáo là họa sĩ HOÀNG BÍCH HOÀI ANH, từng tốt nghiệp thủ khoa Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội khóa 1992, được xếp hạng xuất sắc với tác phẩm Ô-ten-lô. Sở trường của cô là tạo mẫu thời trang trên nền lụa tơ tằm, trên men gốm sứ, trên kính, trên sách báo và trên máy vi tính… Hiện cô là giám đốc Cty TNHH THIẾT KẾ MỸ THUẬT ANH HOÀNG có văn phòng giao dịch ở TPHCM. Ngoài ra cô còn giảng dạy Mỹ Thuật ở Đại học Tôn Đức Thắng và một số trường khác.

Là họa sĩ của mỹ thuật công nghiệp, Hoài Anh có nhiều cơ hội tiếp cận với đời sống của giới doanh nhân. Cô nhận ra rằng không ít doanh nhân dầu bận rộn nhưng vẫn không hề coi nhẹ nhu cầu sống và hưởng thụ văn hóa. Từ đó cô mạnh dạn mở lớp Hội Họa dành cho Doanh nhân tại số 30 đường Bà Huyện Thanh Quan vào thứ Năm hằng tuần. Đối với đối tượng học viên này, điều quan trọng là phải tạo được cho họ niềm đam mê để tự mình khám phá và sáng tạo nghệ thuật.

Và sau cùng là lớp hướng dẫn Hội Họa dành cho người cao tuổi. Ở lứa tuổi này, hội họa không chỉ là nghệ thuật tạo hình mà còn là một phần của nghệ thuật dưỡng sinh. Các học viên chắc không yêu cầu học để trở thành họa sĩ mà chỉ cần đến với thế giới đầy sắc màu nầy để tìm lại cảm hứng cho cuộc sống và nhất là để thấy “cuộc đời vẫn đẹp sao”.

Với Hoài Anh, Hội Họa là hơi thở và cuộc sống và LIFE ART SCHOOL của cô là một địa chỉ cần biết dành cho những người yêu thích bộ môn nghệ thuật cao quí này.

Công ty TNHH THIẾT KẾ MỸ THUẬT ANH HOÀNG
(Anh Hoang Design Co., Ltd)
Văn phòng giao dịch: 59/C4 Phạm Ngọc Thạch, P.6, Q.3, TP. HCM
Trụ sở công ty: 171 Đường TL14, KP3, Q.12, TP.HCM
Điện thoại/ Fax: (08) 38200601
Di động: 090 367 8079 (Hoài Anh)
Email:  anhhoangdesign@gmail.com
Web: anhhoangdesign.com

 HOÀNG LÊ HÒA NỮ  ghi.

 

 

Bài 29

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Hpnt 1

  HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Sinh ngày 9-9-1937 tại Huế. Nguyên quán làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn khóa 1 – Ban Việt – Hán (1960). Cử nhân Triết Đại Học Văn Khoa Huế (1964). Dạy Việt Văn tại trường Quốc Học Huế (1960-1966)

Từ 1963 tham gia phong trào tranh đấu của sinh viên học sinh và trí thức yêu nước ở Huế trong cương vị Tổng Thư Ký Tổng Hội Sinh Viên Huế.

Từ 1966-1975: Thoát ly theo kháng chiến chống Mỹ.

Từ sau 1975, vừa sáng tác vừa làm công tác quản lý tại Hội Văn Nghệ Thừa Thiên – Huế và Quảng Trị

Hội viên Hội Nhà Văn, hội viên Hội Nhà Báo Việt Nam.

Hpnt 3

Bức ảnh đẹp nhất của thanh niên tranh đấu ở Huế-1966

Văn

Các tác phẩm chính đã xuất bản.
Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu – Ký.1971
Rất nhiều ánh lửa – Ký.1979
Ai đã đặt tên cho dòng sông – Ký.1986
Bản di chúc cỏ lau – Truyện ký.1986
Hoa trái quanh tôi – Ký.1995
Huế – Di tích và con người – Ký.1995
Người ham chơi – Nhàn đàm.1998
Ngọn núi ảo ảnh – Ký.2000
Trong mắt tôi – Phê bình văn học.2001
Rượu hồng đào chưa uống đã say – Ký.2001
Miền gái đẹp – Nhàn đàm.2001
Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường – 4 tập.2002
Trịnh Công Sơn và Cây đàn Lya của Hoàng tử bé – Ký.2005
Miền cỏ thơm – Ký.2007.

Hpnt 2

Giải thưởng
– Giải thưởng văn học Hội Nhà Văn VN: Tập bút ký Rất Nhiều Ánh Lửa
– Tặng thưởng Văn Học Hội Nhà Văn Việt Nam: Tập Nhàn Đàm – Miền Gái Đẹp
– Tặng thưởng văn học Ủy Ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam cho các tập bút ký Ngọn Núi Ảo Ảnh – Rượu Hồng Đào Chưa Uống Đã Say –  Miền Cỏ Thơm.
– Giải A về Văn Học Nghệ Thuật Cố Đô 1998 -2003
– Giải thưởng Nhà Nước về Văn Học Nghệ Thuật – 2007
– Riêng tập bút ký Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông đã được Bộ GD&ĐT đưa vào sách giáo khoa của chương trình THPT.

Tacphamhpnt 2

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Video Hpnt Tài Liệu Giáo Khoa

VIDEO về nhà văn HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

MỘT SỐ  Ý KIẾN VỀ VĂN XUÔI CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG.

  • Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường có “rất nhiều ánh lửa”
    Nhà văn Nguyễn Tuân

  •  …Đối với anh Tường, chẳng việc gì phải giới thiệu. Tên tuổi anh, người đọc cả nước đều biết rõ, độc giả ngoài nước cũng nhiều người biết và hâm mộ. Anh là một trong số mấy nhà văn viết ký hay nhất của văn học ta hiện nay.

Nhà văn Nguyên Ngọc.

  • Nếu có thể so sánh thì tôi nghĩ rằng Sơn Nam thuộc đến ngóc ngách những sự tích xưa sau của Sài Gòn – Bến Nghé. Tôi thì nhớ được ít nhiều tên làng vùng Hà Nội. Hoàng Phủ Ngọc Tường thì trầm cả tâm hồn trong khuôn mặt cuộc đời cùng với đất trời, sông nước của Huế.
    Nhà văn Tô Hoài
  • Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn đạt được 7 chữ “ T” – thứ nhất là có Tâm, rồi có Tình, có Tài,có Thực Tiễn, và Trung Thực.
    Nhạc sĩ Trần Hoàn
  • Tôi không biết mình mê nhạc của họ Trịnh hay những trang văn của anh Tường hơn. Dường như có một nỗi mê đắm lạ lùng vẫn dẫn dụ tôi đi trong mịt mùng của nhạc ấy và văn ấy.
    Nhà báo Lê Đức Dục (Báo Tuổi Trẻ)
  • Ngay trong văn xuôi nữa, những bài Thung Lũng Chim Phượng Hoàng  hay Hoa Trái Quanh Tôimà Đoàn Kết đã đăng lại. Tuy rất hiện thực nhưng vẫn phảng phất một mùi hương đã xa xôi, lam nhớ đến những tùy bút kháng chiến của một Nguyễn Tuân – một thế hệ nhà văn khác, một thời điểm sáng tác khác. Điều này làm cho những người không đồng chính kiến với anh cũng phải nhận ra cái tài của anh – và ở nhiều chân trời khác nhau, vẫn tìm đọc văn thơ của anh.
    Nhà văn Đặng Tiến – Paris.

Thơ

Hpnt 5

Hoàng Phủ Ngọc Tường-Đinh Cường vẽ 

.    Những tập Thơ đã xuất bản:
     Những dấu chân qua thành phố – 1976
Người hái phù dung – 1995

TÔI ĐI 
TRÊN NHỮNG CON ĐƯỜNG RỪNG CŨ

Ai hành quân qua đây?
Đất vẫn in mòn lối cũ
Ai dừng chân nơi đây?
Đá vẫn nguyên hình bếp lửa
Đồng chí nào chia tay nơi đây
Ngã ba rừng hoang lá đầy.

 Ôi những con đường chỉ một lần qua
Hai mươi năm biết ai còn nhớ
Nhưng từ đó cây hoang rừng già
Thương mãi đàn con gian khổ
Đất nhớ chân người thiết tha

 Mẹ Trường Sơn tóc mây bạc phơ
Lòng vẫn đau mưa nguồn chớp bể
Hai mươi năm dài trên trán mẹ
Những con đường rừng vẽ nét ưu tư

Ôi những con đường không tên
Dưới ngàn cây im lặng
Vẫn nối dài đất nước hai miền
Vẫn âm thầm đưa máu về tim

Tôi đi trên những con đường ấy
Mang Việt Nam trong linh hồn
Cuộc hành trình hai mươi năm chân chưa hề mỏi
Nên tôi theo đường rừng mê mải vượt Trường Sơn

Hôm nay trên đường đánh Mỹ
Tôi dừng chân mắc võng qua đêm
Nghe suối khua động tiếng thì thầm
Như tiếng ai nói cười trong giấc ngủ

Quên một ngày đường dài dốc đổ
Trong giấc mơ thơm mùi cỏ lá
Ai người xưa một lần qua đây
Đang cùng tôi có mặt đêm nay

    Người trước qua đây hành quân đánh giặc
Người sau qua đây tiếp bước ông cha
Trên dấu chân người nhọc nhằn gian khổ
Loài lan rừng mùa Xuân nở hoa.

Hpnt 4 (2)

Hoàng Phủ Ngọc Tường-Trần Hoàn-Tô Nhuận Vĩ ,Thanh Hải- trên chiến khu Thửa Thiên

NGỌN CỎ LÀM CHỨNG

Anh hái cho em một bông hoa ở Lạng Sơn
Không có gì lạ đâu, chỉ là một ngọn cỏ không tên

Nhưng không đâu như nơi nầy anh đăm đăm nhìn mặt đất
Vì ở đấy tự nghìn năm cỏ hoa đã định hình Tổ Quốc

Nơi đây một người con trai lau nước mắt từ biệt cha
Nỗi riêng chung cỏ hoa làm chứng đến bây giờ
Từ cây số không,bắt đầu tất cả những gì ta có
Nên lịch sử mỗi đời người cũng bắt đầu ở đó

Mai ta theo dân về dựng nhà trên bãi Cà Mau
Nhìn lại bông hoa nầy mà suốt đời thương nhau.

                                     Lạng Sơn. Tháng 9 – 1973.

 

Nt Md

Ngọc Tường-Mỹ Dạ

   DÙ NĂM DÙ THÁNG

   Anh hái cành phù dung trắng
Cho em niềm vui cầm tay
Màu hoa như màu ánh nắng
Buổi chiều chợt tím không hay
Nhìn hoa bâng khuâng anh nói
Mới thôi mà đã một ngày.

   Ruộng cấy người trông cơn mưa
Ruộng gặt người trông cơn nắng
Chăm lo cánh đồng tình yêu
Anh đếm từng vầng trăng sáng
Thiết tha anh nói cùng trăng:
Mới thôi đã tròn một tháng

Mùa Xuân lên đồi cỏ thơm
Mùa Hạ nhìn trời mây khói
Thu tím chân cầu tím núi
Đông xa ngày trắng mưa dầm
Nhìn trời ngẩn ngơ anh nói
Mới thôi mà đã một năm

Rồi sẽ một ngày trắng tóc
Nhưng lòng anh vẫn không nguôi
Thời gian sao mà xuẩn ngốc
Mới thôi, đã một đời người

Dù năm dù tháng em ơi
Tim anh chỉ đập một đời
Nhưng trái tim mang vĩnh cửu
Trong từng hạt máu đỏ tươi

Cho dù năm tháng
Nhạc: Phú Quang – Ca sĩ: Thùy Dương
Download Embed

Hpnt 4

SINH NHẬT

Mai kia tôi về ngủ trên đồi
Nắng rải hoa vàng quanh chỗ tôi
Con chim sơn ca ngày thơ bé
Nó bay về khóc mãi không thôi

Cuku

 

Bài 30

 NÓI THÊM VỀ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

  1. 1. HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

    VÀ NHỮNG CHỮ  “ T “

HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN

    Nhạc sĩ Trần Hoàn ,một nghệ sĩ  lớp đàn anh,vùa là cán bộ lãnh đạo vừa là bạn làng văn của ông Tường đã từng có lời bình như sau:

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn có 7 chữ T: Có TÂM-có TÌNH- có TÀI- có THỰC TIỂN và TRUNG THỰC.

Có lẽ nhạc sĩ Trần Hoàn đã cân nhắc đối với ông Tường khi đặt chữ TÂM lên hàng đầu.Chữ Tâm ấy sẽ sinh ra chữ Tình và những chữ T khác.Nhạc sĩ Trần Hoàn chỉ nói vắn tắt như thế,ai hiểu sao thì hiểu.Tôi tuy là em ruột của ông Tường nhưng chưa chắc đã hiểu được hết..Và tôi xin bổ sung vài chữ T theo chỗ hiểu biết của tôi.

  • Chữ THỨC .- Gia đình tôi vốn theo đạo Phật.Hai anh em tôi đều đã qui y với Hòa Thượng Thích Đôn Hậu-trụ trì chùa Linh Mụ ở Huế và là Tăng Thống đời thứ 3 của Giáo Hội Phật Giáo.Thầy Thích Đôn Hậu đặt cho ông Tường pháp danh là TÂM THỨC.Thức là sự hiểu biết qua nhiều tầng suy nghĩ trên cả hai trục không gian và thời gian nhằm khám phá hoặc tiến gần đến sự thật.Xin dẩn một chuyện như sau:

    Có lần trên tạp chí Phổ Thông của Nguyễn Vỹ ở Sài Gòn trước năm 1975 có bài viết chê vua Duy Tân làm việc lớn mà thất bại  ( tức kế hoạch khởi nghĩa bất thành năm 1916 ở Kinh đô  Huế) vì nghe lời một  anh chàng câu ếch.Người mà tác giả bài báo gọi là anh chàng câu ếch ấy là Trần Cao Vân.Nguyên Trần Cao Vân thường giả dạng người đi câu cá trong Hồ Tịnh Tâm ở Thành Nội Huế để tiện gặp vua Duy Tân mà không bị bọn mật thám của Pháp nghi ngờ.Dưới cái nhìn của Phổ Thông Nguyễn Vỹ thì Trần Cao Vân chỉ là một anh chàng câu ếch.

Nhưng trong bài bút ký “ Thành kính tưởng niệm Trần Cao Vân” của Hoàng Phủ Ngọc Tường chúng ta sẽ nhận ra một Trần Cao Vân “với  tư tưởng Trung Thiên Dịch,với khẩu hiệu đòi quyền đuổi giặc thương dân, vì dân khởi nghĩa,dầu một mình cũng bày trận,thua trận này bày trận khác,cúc cung tận tụy đến chết mới thôi.” Với chữ Thức của Hoàng Phủ Ngọc Tường,Trần Cao Vân không hề bị nhìn lầm là anh chàng câu ếch mà đã hiển thị tầm vóc lớn lao của một người con dân xứ Quảng Nam trung dũng kiên cường, địa linh nhân kiệt. Và chữ Thức này không chỉ bắt gặp một lần trong bài viết về Trần Cao Vân mà đã quán xuyến trong hầu hết tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

  • CHỮ THƠ.-

Người ta quen gọi Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn nên hầu như quên mất một điều: ông còn là nhà thơ.Ông Tường làm thơ sớm hơn viết văn rất nhiều.Hồi còn là học sinh Trung học,ông Tường đã được bạn bè gọi là “Dòng sông Thơ”.Đó là dòng sông dài nhất âm thầm chảy qua đời ông.

Có người nghĩ rằng đối với Hoàng Phủ Ngọc Tường,Thơ chỉ là nghề chơi tay trái.Văn xuôi mới là nghề tay phải.Nhưng không phải như vậy.Nếu đọc đầy đủ thì sẽ thấy Văn ấy, Thơ ấy đều là” thứ thiệt” trong đời sống văn học nghệ thuật .Có điều thơ HPNT ít xuất hiện ồn ào vì nó cần một chỗ thật tịch mịch trong không gian và trong tâm hồn. Hoàng Phủ Ngọc Tường gọi chỗ đó là căn nhà ở đời của Thơ.

“Mỗi người chỉ thực là chính mình trong căn nhà của nó. Thơ cũng vậy. Thơ cần phải trở về căn-nhà-ở-đời của nó là nỗi buồn. Một quyền của thi sĩ là quyền được buồn.”

Và trong căn nhà ấy, Hoàng Phủ Ngọc Tường thực thi quyền được buồn của mình: ông làm Thơ không chỉ với những chất liệu quí hiếm cần có trong Văn mà còn hơn thế – với những nỗi buồn của tâm sự và thế sự đan xen vào nhau như bức mành tương.

Trong tập thơ Người hái phù dung của HPNT xuất bản năm 1992 có bài thơ nhan đề là Sinh nhật:

Mai kia tôi về ngủ trên đồi
Nắng rải hoa vàng quanh chỗ tôi
Con chim sơn ca ngày thơ bé
Nó bay về khóc mãi không thôi

 .Ông nói về Sinh nhật của mình mà sao nghe như một văn ảnh xinh đẹp về nỗi chết.- nên cũng có thể coi đây là bài thơ cuối đời của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

  • CHỮ TÀI LIỀN VỚI CHỮ TAI

     Là nhà văn,nhà thơ tức là chữ TÀI đã được công nhận.Còn chữ TAI ở đây nghĩa đen là Tai biến mạch máu não.Ông bị đột quỵ từ năm 1998 khi đang làm công tác giảng dạy tại Đại Học Duy Tân-Đà Nẵng.Từ đó đến nay,chập chờn cơn tỉnh cơn mê thấm thoát đã 25 năm.

Còn một sự kiện khác  cũng có thể xem là một loại tai họa đối với ông Tường.Đó là việc ông bị những người chống Cộng cực đoan ở hải ngoại không ngừng bôi nhọ bằng cách vu khống bộ ba Tường-Phan-Xuân là đao phủ Tết Mậu Thân ở Huế.Chúng tôi đã nhiều lần vạch rõ đây là thủ đoạn “hành nghề chống Cộng” của tên cảnh sát Liên Thành.Riêng ông Tường không thích bút chiến và đôi co với hạng người đó.Ông chỉ phát biểu vắn tắt rằng: “  “Không hiểu sao đến giờ vẫn có những kẻ xấu miệng cứ tìm cách buộc chặt tôi vào “vụ” Mậu Thân Huế.Tôi đành xem họ như những kẻ vu khống bẩn thỉu, thế thôi!”

Năm 2021,vào dịp sinh nhật lần thứ 84 của ông Tường,tôi đã tặng ông  bài thơ cảm đề sau đây:

Thức suốt đời người viết chữ TÂM

Chữ ấy dường như đã viết xong

Gửi lại dòng Hương lời giã biệt

Một vầng trăng trong vắt lòng sông”

 Ngoài ra tôi còn bắt chước người xưa, viết tặng thêm câu đối:

“  *   Cõi Khuê văn vạch đất tầm trời,rót chén rượu đào,giao kết bạn hiền nâng bút ngọc.

  • Đường kháng chiến đeo sao đội nguyệt,nếm mùi gian khổ,theo chân đồng chí vững lòng son “.

Bình sinh ông Tường không đánh giá cao sự viết lách của tôi.Nhưng lúc này vấn đề không phải là văn chương chữ nghĩa mà là những lời biệt ly cuối cùng trước khi phân kỳ.Thôi nhé! Vĩnh biệt anh.

Z4552385080928 F1e13677524f34b4ee8a700e9bf60084

Thơ và câu đối của Hoàng Phủ Ngọc Phan tặng HPNT                                                                                                                                  HPNP

 2. NẮNG HOÀNG HOA ĐÃ TẮT…

TRẦN VIÊT NGẠC

    TÔI HỒI CƯ về Huế năm 1948.Sau ba tháng hè học thêm với chú tôi,tôi nạp đơn thi vào lớp nhì (lớp 4) trường tiểu học Trần quốc Toản,thành nội Huế.Niên khoá 1949-1950,tôi lên lớp Nhất A,học với thầy Phạm văn Trâm.Hiệu trưởng là thầy Ưng Thái.Lớp nhận thêm nhiều học sinh từ các trường khác,tỉnh khác.Đặc biệt là có hai học sinh mới đền tên bốn chữ : anh Trịnh Xuân Công Sơn từ trường Nam Giao bên hữu ngạn sông Hương và anh Hoàng phủ Ngọc Tường từ trường tiểu học Triệu Phong ,Quảng Trị.Sơn giỏi nhạc,hát hay còn Tường giỏi văn.

Cuối năm học,chúng tôi thi ở Trung tâm Trường Thanh long để lấy bằng Tiểu học tốt nghiệp cùng với nhiều trường tiểu học khác ở Huế .Hoàng phủ Ngọc Tường đậu thủ khoa với điểm 105/120.Từ thứ nhất đến thứ tám là học sinh Trần Quốc Toản.,trong đó có tôi.

Trường Trần quốc Toản lúc hồi cư ,tạm thời dùng cơ sở của toà nhà Thị lang bộ Hộ đường Bộ Thị .Trong ngày lễ tổng kết cuối năm tổ chức tại sân trường,thầy Hiệu trưởng Ưng Thái tuyên bố với giáo viên và học sinh toàn trường :

“Học trò Trần quốc Toản quá hư ăn ! Trong mâm cỗ,có mười miếng chả,học sinh Trần quốc Toản giành ăn mất tám miếng!” Cả sân trường vỗ tay rào rào.Hai thầy dạy lớp nhất là thầy Trâm (nhất A) và thầy Phạm văn Tâm (nhất B) được thầy hiệu trưởng và các đồng nghiệp đến bắt tay chúc mừng.

Đến phần văn nghệ,tôi còn nhớ anh Lê gia Phàm và anh Trịnh Xuân Công Sơn đều lên hát.Tôi và Hoàng phủ Ngọc Tường tham gia đóng trích đoạn vở kịch thơ Hận Nam Quan.Tường bị đóng gông bằng tàu lá chuối, do hai tên lính Tàu áp giải ,vai Phi Khanh ,còn tôi mặc áo dài xanh,thắt lưng xanh,đầu đội khăn đóng ,đóng vai Nguyễn Trãi.Tôi còn nhớ mấy câu:

Cha già hởi,cho con cùng theo với,

Nơi tha hương, phụng dưỡng đấng cha già..

Con nguyện sống đến giờ cha hấp hối,

Lệ tuôn tràn khóc hận,buổi chia ly !

Tường ngâm :

Con về đi! Đừng theo cha lẽo đẽo,

Con về đi ,luyện lấy lưỡi gươm vàng !

Nuôi chí lớn ,bọc thây trong da ngựa !

Vì muôn dân,tìm cái chết vinh quang !

(hơn bảy mươi năm ,chắc nhớ không hoàn toàn đúng…)

Niên khoá 1950-51,cả hai chúng tôi đều thi đậu vào trường Quốc học,.còn Sơn chuyển qua học trường Pháp và cắt bớt chữ Xuân còn lai Trịnh Công Sơn.Cuối năm đệ tứ.Chúng tôi thi bằng Trung học đệ nhất cấp tai trường Quốc học.Hoàng phủ Ngọc Tường lại đậu thủ khoa (1954)Thủ khoa không chỉ thí sinh Huế mà còn nhiều tỉnh như Quảng Trị,Quảng Bình,Quảng Nam…đến Huế thi.

Chúng tôi,những học sinh giỏi của Quốc Hoc,Đồng Khánh và các học sinh trường tư nhưng đậu ưu,bình..được thầy hiệu trưởng Nguyễn văn Hai dồn vào một lớp B1.Lớp có 5 học sinh giỏi nhất trường Đồng khánh góp mặt : Nguyễn thị Kim Giao,Lê thị Ngọc Liên,Bùi thị Thiên Chư,Ngô thị Vĩnh vàTrần thị Mộng Lân.Cuối niên khoá 1955-1956,chúng tôi cả lớp đều trúng tuyển Tú tài I.

Nhà thơ của lớp là Hoàng phủ làm một bài thơ trường thiên, khắc hoạ chân dung của tất cả các bạn với những nhận xét chân tình,cảm động…đặt tên là NẮNG HOÀNG HOA.Tôi nhớ bài thơ mở đầu như sau:

Thôi nhé từ nay cách biệt

Dặm đời hết bước chung nhau

Đường xa trông về luyến tiếc

Hoàng hoa nắng đổ bên lầu…

Lên lớp Đệ nhất B1,rất nhiều bạn tham gia ban báo chí,ban giáo dục bình dân của trường.Tường được bầu làm trưởng ban ban Giáo dục bình dân.Ban tổ chức dạy ở 3 trường ,vào ban đêm từ 19 giờ đến 21 giờ,đó là các địa điểm Quốc học,Nguyễn tri Phương,Bán công.

Tất cả giáo viên đều là học sinh lớp 12 chúng tôi đãm nhận.Học sinh lớp đêm là những người lớn tuổi,đang là công nhân,thư ký,thợ.. đi học để lấy bằng Trung học Đệ nhất cấp hay Tú tài I.,từ lơp Đệ thất đến lớp Đệ nhị.Chúng tôi phải gây quỹ để trả tiền lao công,tiền điện..,tiền phấn..còn học sinh tráng niên được hoàn toàn miễn phí.Kết quả là cuối niên khoá 1953-1954, xét học lực và hoạt động Hoàng phủ Ngọc Tường được Hội đồng giáo sư trao Phần thưởng Danh dự toàn trường QuốcHoc.

Lớp B1 chúng tôi đều quý Tường,đều nhớ đến NẮNG HOÀNG HOA mà Tường đã sáng tác.Tất cả các bạn B1 đều có mặt trong thi phẩm trường thiên chan chứa tình cảm.

Nay thì NẮNG HOÀNG HOA vừa vụt tắt,để lại bao bùi ngùi thương tiếc.

Vĩnh biệt nhà thơ của lớp Đệ Nhất B1 Quốc Học  -Huế(1954-1957).

Hãy yên nghỉ nghe Hoàng phủ.

Thay mặt các bạn B1 thắp một nén hương cho Tường Dạ,

TRẦN VIẾT NGẠC

3.Bi kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường

NGÔ MINH

15:04 | 06/06/2008

    Từ rất nhiều năm nay tôi rất muốn bày tỏ đôi điều về những bi kịch cuộc đời mà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) từng chịu đựng và trăn trở, từng nén vào lòng để sống và sáng tác.

  Những nỗi buồn nhân thế đêm ngày gặm nhấm lòng anh. Vì tôi gần gũi vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường – Lâm Thị Mỹ Dạ hàng ngày, nên tôi được nghe kể nhiều lần từng sự việc một. Sau Tết Mậu Tý, kỷ niệm 40 năm Mậu Thân vừa qua, một lần nữa Hoàng Phủ lại rất bức xúc, khi nhà báo Thanh Tùng (báo Tiền Phong) tìm đến phỏng vấn anh về những chuyện buồn Mậu Thân ấy. Bài phỏng vấn đó có tựa đề là: “Cái hoạ của người nổi tiếng”. Anh kể về cuộc phỏng vấn cho tôi nghe. Vậy bi kịch của Hoàng Phủ là gì? Đó là chuyện một số hoạt động của anh trong chiến dịch Mậu Thân bị một số người cố tình hiểu sai, vu khống tàn tệ trên báo, trên mạng, trong dư luận cộng đồng người Việt hải ngoại. Thêm nữa, từ nhiều năm qua, chính quyền cũng không mấy mặn mà với anh, một nhà văn đã sống hết mình, viết hết mình vì nhân dân, đất nước.
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong số ít nhà văn nổi tiếng và có uy tín và được người đọc mến mộ nhất hiện nay ở Việt . Văn chương Hoàng Phủ thấm đẫm tình thương yêu và trí tuệ, là thứ văn chương tri âm tri kỷ, làm  nhiều thế hệ độc giả say mê, tìm đọc. Được người đọc mến mộ vì văn chương HPNT không phải là thứ văn chương “phải đạo” (chữ của Hoàng Ngọc Hiến), xưng tụng một chiều, “ta thắng địch thua”, mà đó là thứ văn chương thật, có chính kiến rạch ròi, mạnh mẽ, là sự dấn thân để xây dựng một nền dân chủ và nhân văn cao cả. Không giống  một số nhà văn xu thời nghĩ khác, viết khác, sống khác, viết khác, luôn đeo mặt nạ ngăn cách  mình với xã hội, HPNT sống như viết, nói như viết, nghĩ như viết. Anh viết đến tận cùng của vấn đề mà không sợ sự suy diễn, quy chụp, vì anh viết và nói bằng trái tim đỏ thắm tình người và tình yêu Tổ Quốc. Chỉ đọc những bài nhàn đàm  bàn chuyện thế sự hàng ngày hay đọc bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông hay Rừng hồi, ai cũng nhận ra chân dung Hoàng Phủ. Đó là một cây bút luôn dấn thân vì lẽ phải, vì quê hương xứ sở. Từ sau 30 – 4 – 1975 đến nay, HPNT đã in trên 16 đầu sách bút ký, nhàn đàm, thơ, trong đó có Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường gồm 4 tập với 2000 trang in, là những trang viết làm nao lòng người đọc cả nước. Có lẽ HPNT là nhà văn đông đảo người hâm mộ nhất trong nước từ mấy chục năm nay. Không chỉ văn chương mà trong cuộc sống ngày thường, Hoàng Phủ luôn đau đáu nỗi người. HPNT bị trọng bệnh nằm một chỗ, xem ti vi thấy cảnh nghèo đói, bần cùng của người dân nghèo, nhiều lần anh rưng rưng nước mắt. Càng sắc sảo tài hoa trong văn chương bao nhiêu, anh càng quên mất bản thân mình trong cuộc sống đời thường bấy nhiêu. Anh sống hồn nhiên như một đứa trẻ, không hề biết đến, không hề bận tâm đến những giả trá lọc lừa chung quanh mình… Văn là người. Một người như thế, một nhà văn đồng hành cùng nhân dân như thế không thể có chuyện cầm súng giết người, phản nhân dân, hay phản Tổ Quốc được. Thế mà bi kịch vẫn cứ xảy ra…
Năm 1966, hoạt động trong phong trào học sinh sinh viên chống chế độ Mỹ – Thiệu, bị chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế truy lùng, HPNT đã lên “rừng” theo kháng chiến. Đó là sự lựa chọn của anh theo tiếng gọi của trái tim yêu nước, trước tình cảnh quân Mỹ ngập tràn miền . Lúc này Hoàng Phủ là  giáo sư dạy môn siêu hình học ở Trường Quốc Học Huế. Anh có viết báo làm thơ và làm chủ bút một số tờ báo của  lực lượng học sinh sinh viên đấu tranh, nhưng về văn học thì chưa có tác phẩm nào nổi tiếng. Cùng tham gia “xuống đường” đấu tranh với HPNT lúc đó có Hoàng Phủ Ngọc Phan (em trai), Nguyễn Đắc Xuân, Trần Vàng Sao, Ngô Kha, Trần Quang Long, giáo sư Lê Văn Hảo, Phương Thảo v.v. Năm 1966, HPNT “lên xanh” làm cán bộ, rồi viết báo ở Ban Tuyến Huấn Thành uỷ Huế, chẳng có chức vụ gì cả. Trong “Tổng tấn công” Tết Mậu Thân 1968, trong khi chiến trận đang hồi ác liệt tại Huế, thì một tổ chức mới ra đời gọi là Liên Minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Thành phố Huế (gọi tắt là Liên Minh Huế) ra đời. Hoàng Phủ Ngọc Tường, là Tổng thư ký, giáo sư Lê Văn Hảo, chủ tịch, bà Nguyễn Đình Chi và Hoà thượng Thích Đôn Hậu là phó chủ tịch. Đây là tổ chức mặt trận trên danh nghĩa để kêu gọi tập hợp quần chúng đứng lên “chống Mỹ”, chứ không có bất cứ một quyền hành gì trong điều hành chỉ huy chiến trận cả. Những ngày nổ ra “Tổng tiến công” ở Huế, cả Chủ tịch, 2 phó chủ tịch và Tổng thư ký của Liên Minh đều ở “xanh”. Riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường sau khi soạn xong “Lời hiệu triệu” kêu gọi quần chúng nổi dậy, thu băng tiếng nói, rồi được gửi về phát đi khắp các nẻo đường, phố phường ở Huế trong Tết Mậu Thân sau khi quân Giải phóng chiếm được thành phố. Sau khi viết lời “Lời hiệu triệu” ấy, HPNT và Lê Văn Hảo có tên chính thức tham gia chiến dịch Mậu Thân, đều có mặt ở Chỉ huy sở Tiền Phương của Mặt trận Huế ở núi Kim Phụng, phía Tây Huế. Bộ tư lệnh bảo chờ sáng mai sẽ về Huế, khi tình hình đã ổn định. Nhưng rồi tình hình ngày càng diễn biến phức tạp, nên hai người chỉ ngồi trong phòng Chỉ huy Sở. Ngồi như là ngồi chờ giao việc và sau đó không bao giờ trở lại thành phố Huế nữa cho đến năm 1972 được điều ra làm Trưởng Ty Văn hoá tỉnh Quảng Trị (vùng mới giải phóng của Mặt trận giải phóng). Mà thực ra trong suốt những năm lên “Xanh” ở A Lưới, HPNT không được phân công về thành phố hay đồng bằng một chuyến nào cả. Điều đó có rất nhiều nhà văn như Tô Nhuận Vỹ, Xuân Thiều, Nguyễn Quang Hà, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm biết rất rõ.
Thế mà từ gần 20 năm nay, một số cây bút ở hải ngoại không biết do thù oán gì, hay do ganh tỵ tiếng tăm với Hoàng Phủ khi anh đã nổi tiếng ở trong nước, đã viết bài đổ tội cho HPNT, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân với những lời lẽ vô cùng đao búa như gọi là “đồ tể giết 2000 người Huế trong Tết Mậu Thân”, “thủ phạm chính của cuộc tàn sát”, “các hung thần can dự tới bữa tiệc máu” v.v. Năm 1997, Thụy Khuê, đài RFI (Pháp) đã phỏng vấn HPNT về vụ Mậu Thân này. Trong bài trả lời phỏng vấn đó, HPNT đã nói rất rõ ràng là mình không hề có mặt ở Huế trong suốt trận chiến đó. Buổi phát thanh này đã được tiếp sóng qua Đài phát thanh Little Saigon ở quận Cam   mà nhiều Việt Kiều đã nghe trực tiếp. Bài phỏng vấn đó cũng được in lại trên Tạp chí Hợp Lưu, do Khánh Trường làm Tổng biên tập. Thế mà không hiểu sao nhiều người cứ cố tình nói sai sự thật.  Ngày 1-1-2005, trên website http://ngothelinh.tripod.com lại có bài viết “Hoàng Phủ Ngọc Tường, kẻ hái phù du sau thảm sát Tết Mậu Thân 1968 tại Huế”. Tác giả bài viết cho rằng tập thơ “Người hái phù dung” của HPNT là sự ăn năn, sám hối về tội “phản quốc” và “sát nhân” của mình. Thật là một sự phán xét sai lệch rất nhẫn tâm về tập thơ trữ tình rất  thâm sâu được nhiều người yêu thích ấy. Gần đây thôi, đầu tháng 1- 2008, trên blog http://vanchuong.vnweblgs.com do nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo chủ trương, có in bài “Chuyện vui về Hoàng Phủ Ngọc Tường”, trong phần comment có người xưng là Dân Huế đã nói khống lên rằng: “Chính hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan cầm súng bắn máy bay Mỹ trong khu hẻm nhà tôi ở Huế (Phường Phú Cát)”. Thật là nói lấy được! Những người như Tường là cán bộ dân sự, đi kháng chiến bằng ngòi bút, chứ không bao giờ cầm súng cả. Lại có người comment trên http://vanchuong.vnweblgs.com ngày 15-1-2008 cho rằng: “ÔngTường quả có dính vào vụ Mậu Thân Huế, nhìn hoàn toàn theo khía cạnh khách quan. Ông ta không thực sự nhúng tay vào vụ Mậu Thân, nhưng về mặt tinh thần, ông chính là linh hồn của vụ đánh chiếm Huế qua tiếng tăm của ông, do tài năng của ông và do ảnh hưởng của ông tới những người đàn em, học trò”. Nói cho thật công bằng, tiếng tăm của Tường lúc đó chưa có gì nhiều, chưa như bây giờ. Tường chỉ là một cán bộ tuyên huấn bình thường, làm sao lại bảo ông là “linh hồn của vụ đánh chiếm Huế”? Hơn nữa ở các nước theo CNXH, “công-nông-binh” là lực lượng chủ lực, từng lớp trí thức là ăn theo, chưa bao giờ được tôn trọng, mà còn được coi là từng lớp tiểu tư sản, hay chao đảo lập trường tư tưởng phải thường xuyên phải học tập cải tạo, nên không đáng tin cậy!
Nghe tôi nhắc có những bài vở, ý kiến trên mạng về vụ Mậu Thân ấy, HPNT thốt lên: “Không hiểu sao đến giờ vẫn có những kẻ xấu miệng cứ tìm cách buộc chặt tôi vào “vụ” Mậu Thân Huế. Đúng Mậu Thân đã trở thành một bi kịch đời tôi!” Anh bực bội: “Tôi đành xem họ như những kẻ vu khống bẩn thỉu, thế thôi!”
Tôi nghĩ có lẽ sự hiểu nhầm, hiểu sai rất oan ức này là do cái “Lời hiệu triệu” với giọng đọc của HPNT thu thanh từ trước, phát đi khắp các nẻo đường Huế sau khi nổ ra Chiến dịch, làm cho ai cũng tưởng HPNT đang ở Huế. Thứ nữa là tập ký sự “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu” mang tên tác giả là Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về những người giữ cờ trên Phu Văn Lâu Huế. Không  tham gia đánh trận trực tiếp làm sao mà viết về cuộc chiến với những chi tiết cụ thể như thế? Sự thật thì không phải vậy. HPNT bảo rằng, đây là một tập sách “viết chưa đạt”. Vì thế trong 4 tập của Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường (NXB Trẻ và Công ty Phương hợp tác ấn hành, 2002), tập ký này không được chọn trang nào cả. Tường kể, đây là cuốn sách tôi viết từ một tư liệu ghi chép thực tế “những người giữ cờ” ở Huế của Nguyễn Đắc Xuân. Tôi nhớ bản thảo ấy cũng chỉ độ 5 đến 7 trang. Tôi đã hư cấu thêm theo sự cho phép của thể loại ký và theo suy nghĩ của tôi – chứ tôi đâu có mặt ở Huế vào thời điểm ấy. Viết xong gửi đi tôi ghi tên cả hai người cùng viết. Một hôm tôi đang làm rẫy ở trong rừng thì nhận được một cuốn sách của NXB Giải Phóng. Không hiểu vì sao bản này khi in thành sách tên tác giả lại chỉ có mình tôi. Thế là tôi trở thành thằng “hớt tay trên” của bạn. Tôi đã viết thư gửi ra Hà Nội phản ứng với Giám đốc NXB Giải Phóng lúc đó là  anh Khương Minh Ngọc. Nhưng sau đó tôi được anh Bảo Định Giang, lúc này đang phụ trách Tiểu ban Văn nghệ Miền Nam can ngăn; bảo rằng làm như thế sẽ “có lợi” cho cách mạng hơn! Không biết có lợi là lợi gì? Lúc đó tôi đã kể cho anh Nguyễn Đắc Xuân nghe tất cả chuyện oái oăm này…
Tiện đây, tôi cũng xin nói đôi lời về cái gọi là “vụ tàn sát Mậu Thân” ở Huế. Không một quân đội nào dạy cho binh lính mình giết người dân cả. Dân là chỗ dựa của quân đội. “Nâng thuyền cũng dân, lật thuyền cũng dân” (Nguyễn Trãi). Hơn nữa tư tưởng chiến tranh của Võ Nguyên Giáp là “chiến tranh nhân dân”, dựa vào dân mà chiến đấu. Nhưng chết nhiều người trong Mậu Thân là sự thật rất đau lòng. Trong chiến tranh khốc liệt, người chết do nhiều nguyên nhân: Hai bên bắn nhau, tên rơi đạn lạc. Những ngày Mậu Thân suốt tháng trời đó, máy bay Mỹ dội bom, quân đội Sài Gòn bắn pháo dữ dội suốt tháng trời khắp các nẻo đường Quân giải phóng đột nhập Huế, dội pháo vào Thành Nội, và thành phố Huế. Quân giải phóng cũng chống trả quyết liệt. Bom pháo, súng đạn đó không  biết cách phân biệt “Việt Cộng” hay người dân, tất cả đều bị chìm trong khói lửa. Rồi chuyện lợi dụng chiến tranh để thanh toán tư thù. Cả hai bên đều tìm cách diệt những người là tay chân thân tín của bên kia để trừ hậu hoạ v.v. Vì thế, không thể đổ việc nhiều người chết cho một bên nào được. Tạp chí Sông Hương số Xuân Mậu Tý (2 – 2008) có in bài “Me Mỹ kể chuyện Huế sau Tết Mậu Thân”, trích đăng hồi ký của bà Nguyễn Thị Thanh Sung, người An Cựu Huế là vợ của ông Bill Fleming, cố vấn An Ninh tại Toà lãnh sự Hoa Kỳ tại Huế lúc đó, gọi theo lối dân gian bà là “Me Mỹ”, hiện đang định cư ở Potomac, bang Maryland. Bà Thanh Sung đã kể chuyện sau Mậu Thân, bố bà là ông Nguyễn Đăng Hiếu bị cảnh sát chính quyền Huế bắt giam vì đã có tên trong  quyển Sổ Vàng, khi cuốn “Sổ vàng của Việt Cộng” lọt vào tay họ. Cuốn sổ vàng đó ghi tên những người đóng góp tiền của giúp Cách mạng trong chiến dịch Mậu Thân. Mấy ngày sau đó có thông báo gửi cho mẹ bà Thanh Sung “Bà và người nhà lên đường rầy xe hoả gần nhà ga để nhận xác chồng bà. Khi nhận ra nhớ đem về chôn cất ngay lập tức”, “qua khỏi nhà Ga, đi theo đường rày về phía núi, từ đằng xa nhìn tới, chúng tôi đã bắt đầu thấy những xác chết nằm la liệt hai bên đường rày”. (Theo www.tapchisonghuong.com.vn). Có bao nhiêu ngàn người bị chính quyền Sài Gòn trả thù “chết la liệt” như ở đường rày Ga Huế? Không ai thống kê được!

HPNT là bạn thân của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tường đã viết một cuốn bút ký rất hay về Trịnh “Cây đàn lya và hoàng tử bé”, đã từng viết thư gửi Hội đồng giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2007, đề nghị phải tặng cho Trịnh Công Sơn một giải thưởng lớn về những đóng góp của nhạc sĩ cho Tổ quốc và dân tộc. Thế mà ở  Hải ngoại có người đã vu cho Tường làm phó Chủ tịch Hội Văn nghệ đã đày đoạ Trịnh đi tăng gia cuốc đất trồng khoai sắn ở những vùng heo hút, khó khăn. Những ngày sau 1975, đất nước vô cùng khó khăn về kinh tế, có khi như đứng bên bờ vực thẳm, do bị cấm vận, do sai lầm về chính sách kinh tế. Nên chính quyền các cấp phải làm một việc là hô hào cán bộ, công chức, quân đội, dân chúng tăng gia cứu đói. Đó là lệnh trên, ai cũng phải đi, chứ đâu phải lệnh của ông Phó chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh Hoàng Phủ Ngọc Tường! Bản thânTường gầy gò, nhỏ bé, chân cò tay nhện cũng phải cầm cuốc cuốc đất trồng sắn trồng khoai đến chảy máu tay…
Sau năm 1975, Tường là một trí thức đi theo kháng chiến lặn lội rừng núi suốt 10 năm, cho đến ngày toàn thắng. Từ năm 1972 đến 1976, anh lao mình vào công cuộc xây dựng ngành văn hoá văn nghệ tỉnh Quảng Trị. Khi ba tỉnh Bình Trị Thiên nhập một, anh vào Huế hoạt động trong Hội Văn học nghệ Thuật. Thời gian làm Tổng Thư ký Hội Liên Hiệp VHNT tỉnh Bình Trị Thiên, anh đã có công trong việc làm cho công chúng hiểu đúng hơn về nhạc tiền chiến, mà nhiều nhạc sĩ ở Bắc vào, công chúng là cán bộ tập kết về lại quê thường gọi là “nhạc vàng” độc hại, “ru ngủ” người cách mạng, nên kiên quyết tẩy chay. Cả những ca khúc tuyệt vời của Trịnh Công Sơn cũng bị cho là nhạc vàng. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tổ chức một số buổi hội thảo về “nhạc tiền chiến”, mời các ca sĩ  giỏi ở Huế đến hát các bài hát Đêm tàn Bến Ngự của Dương Thiệu Tước, Đêm đông của Nguyễn Văn Thương, Hồn Vọng Phu (1,2,3) của Lê Thương, Thiên ThaiTrương Chi, Suối mơ của Văn Cao v.v. cho mọi người nghe. Rồi mời mọi người đánh giá. Kết quả người nghe ai cũng vỗ tay tán thưởng. Từ đó hai chữ “nhạc vàng” cứ lui dần, người Huế lại hát nhạc tiền chiến, nhạc Trịnh Công Sơn.
HPNT chí cốt với con đường mình đã chọn đến mức anh vẫn kiên nhẫn đến 17 năm đối tượng Đảng. Đến khi vào được đảng thì mấy năm sau bị tai nạn nên xin thôi sinh hoạt. Sở dĩ Tường vào vai “đối tượng Đảng” lâu như thế vì HPNT có tư tưởng dân chủ đổi mới sớm quá, nên không được cấp trên tin tưởng lắm. Vì Tường biết tiếng Anh, tiếng Pháp, hay đi  dọc phố nói “tiếng Tây” với mấy người ngoại quốc, Việt Kiều về nước, những người khách Tây thường đến thăm nhà Tường, nên không ít cán bộ cấp trên cho rằng, Tường đang làm việc hai mang. Nghi ngờ đó kéo dài rất lâu.
Tường kể: “Sau giải phóng có lần ông được giới thiệu ra ứng cứ Đại biểu Quốc Hội, thì không hiểu tại sao trong dân gian lập tức lan truyền rằng: Lan – Đính – Chính – Tường/ Bốn tên phản động tìm đường mà đi. (Lan – Lê Mậu Lan, Giám đốc nhà máy xi măng Long Thọ lúc đó, Đính – Nguyễn Hữu Đính, kỹ sư nông lâm yêu nước, Chính – Ngô Thế Chính, Phó tiến sĩ sử học, hiệu trưởng trường Đồng Khánh (Trường Hai Bà Trưng). Nghe như thế Tường buồn: “Ai phản động? Tại sao bảo tôi là phản động? Tôi dám thách bất cứ ai có thể đưa ra một bằng chứng nhỏ chứng tỏ rằng tôi là kẻ phản động. Các người chỉ giỏi bôi nhọ người khác để được việc mình!”. Có lần Tường được mời sang dự hội thảo văn hoá ở nước Đức, vé máy bay đã mua đút túi rồi, nhưng sắp đến giờ bay thì có người đến thu hồi vé máy bay của Tường. Thế là chuyến đi bị huỷ. Có lẽ vì nhà nước chưa hiểu rõ bản chất cách mạng của con người Tường, nên sợ Tường đi xuất ngoại rồi ở luôn bên đó “với địch”. Một lần khác Tường lại được mời đi Pháp, lần này lại bị gây rắc rối mãi trong chuyện kê khai thủ tục, may nhờ một sĩ quan công an người Quảng Trị đồng hương  giúp đỡ, anh mới lên máy bay được.
Tường không được tin tưởng  vì tại diễn đàn các Đại hội Nhà văn Việt Nam, nhất là Đại hội 4,5, Tường là một người phát biểu chính kiến mạnh mẽ, anh đòi “cởi trói”, đòi tự do sáng tạo cho văn nghệ sĩ. Đó là những đòi hỏi chính đáng mà các Đại hội nào các Nhà văn cũng lên tiếng. Từ năm 1990 – 1992, chia lại tỉnh, Tường là Tổng Biên tập Tạp Chí  Cửa Việt. Tuy là Tạp chí văn nghệ của một tỉnh lẻ nơi miền Trung heo hút, thế mà Tường đã biến nó thành một tạp chí được độc giả mến mộ, tìm đọc nhất trong nước lúc đó. Vì Tạp chí đã thể hiện được một quan điểm sáng tác mới mẻ theo ý tưởng tự do sáng tạo, nói thẳng nói thật vì sự tiến bộ xã hội, vì văn minh đất nước. Rất nhiều những cây bút có tư tưởng đổi mới có tên tuổi từ Hà Nội, Sài Gòn, Paris… như Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Xuân Nguyên, Hoàng Cầm, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Thị Hoàng, Lữ Phương, Trần Độ, Lê Bá Đảng, Bùi Minh Quốc, Phùng Quán v.v.. đã gửi bài đăng tạp chí. Mới 17 số, Tạp chí Cửa Việt đã làm cho những người quản lý Văn nghệ theo lối cũ nổi giận. Thế là tạp chí bị đình bản! Đó là một bi kịch, một cú sốc lớn của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Có lẽ vì những lý do đó mà việc xét giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưỏng Nhà nước về Văn học nghệ thuật diễn ra lần đầu từ năm 1997, nhưng HPNT không được xét. Mãi đến đầu năm 2007, Nhà nước mới trao Giải thưởng Nhà nước cho HPNT. Tôi nghĩ Văn chương và nhân cách của Hoàng Phủ ảnh hưởng sâu đậm đến các thế hệ người Việt trong ba chục năm qua. Anh rất xứng đáng được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Khi nói về chuyện này, Tường lại bảo: “Giải thưởng chả quan trọng. Quan trọng nhất là người đọc mến mộ mình!”

Bi kịch đến từ nhiều phía thế mà HPNT vẫn cặm cụi viết hết cuốn sách này đến cuốn sách khác. Nhắc đến chuyện “bi kịch” anh cười: “Nhưng tôi vẫn làm việc vui vẻ “Bất đắc chí độc hành kỳ đạo” – Mạnh Tử đã nói như thế. Sống ở đời một người tri thức cũng có một cái giá phải trả cho việc mà người khác cứ tưởng là mình được tín nhiệm…
Huế, 3-2008

NGÔ MINH
(nguồn: TCSH số 231 – 05 – 200

File Cat 2d Cnc Hoa Hong 155428

.

 

 

Bài 31

LÂM THỊ MỸ DẠ

Md 2

LÂM THỊ MỸ DẠ

Tiểu sử

      Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ sinh năm 1949 tại Quảng Bình.Hội viên Hội nhà văn Việt Nam năm 1978, từng học Trường viết văn Nguyễn Du; tham gia khóa đào tạo  tại Học viện Gorki (Liên Xô cũ), ủy viên BCH Hội nhà văn Việt Nam khóa III và IV. Giải Nhất cuộc thi thơ báo văn nghệ 1971-1973; Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Namcho tập thơ nhan đề Bài thơ không năm tháng Giải A thơ của ủy ban toàn quốc các Hội LHVHNT Việt Nam năm 1999. Giải A thơ Giải thưởng văn học Nghệ thuật Cố đô (1998-2004) của UBND tỉnh và Hội LH VHNT Thừa Thiên Huế. Năm 2007, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật với  3 tập thơTrái tim sinh nở (1974), Bài thơ không năm tháng (1983) và Đề tặng một giấc mơ (1988). Năm 2005, tập thơ Cốm non (Green rice) của chị được dịch ra tiếng Anh, in và phát hành tại Hoa Kỳ. 

Tác phẩm

Trái tim sinh nở (thơ, 1974)
Bài thơ không năm tháng (thơ, 1983)
Danh ca của đất (truyện thiếu nhi, 1984)
Nai con và dòng suối (truyện thiếu nhi, 1987)
Phần thưởng muôn đời (truyện thiếu nhi, 1987)
Hái tuổi em đầy tay (thơ, 1989)
Mẹ và con (thơ, 1994)
Đề tặng một giấc mơ (thơ, 1998)
Hồn đầy hoa cúc dại (thơ, 2007)

Một tập thơ gồm 56 bài nhan đề Cốm Non (Green Rice) do bà tự tuyển chọn trong những tập thơ đã xuất bản của mình được Nhà xuất bản Curbstone dịch sang tiếng Anh và phát hành tại Hoa Kỳ năm 2005.

Tác phẩm của LÂM THỊ MỸ DẠ

                                    “Thơ  phải bắt đầu từ sự chân thật”…

Ít ai biết, lên chín, Lâm Thị Mỹ Dạ đã làm thơ. Lên 10, chị có tập thơ đầu tiên với khoảng 40 bài. Do chiến tranh, tập thơ bị thất lạc. Chỉ đọng lại trong tâm trí nhà thơ những câu thơ rất buồn với nỗi trắc ẩn thời thơ ấu: Tuổi thơ tôi như sáng chiều đỏ lựng /Hắt máu xuống dòng sông đen.

Nhắc lại chuyện cũ. Đôi mắt nâu thẳm sâu của chị bỗng mênh mang. Những ký ức tuổi thơ đau buồn như mãi mãi in hằn trong tim chị những vết sẹo. Ba chị vốn là một người gốc Hoa, từng tham gia Việt Minh ở Huyện đội Lệ Thủy (Quảng Bình) thời chống Pháp. Sau Cách Mạng Tháng Tám, ông đưa bố mẹ mình vào làm ăn ở Sài Gòn. Năm 1954, ông mua 2 tấm vé máy bay đón hai mẹ con chị từ sân bay Đồng Hới nhưng cuối cùng, mẹ không đi vì còn mẹ già và cô em gái nhỏ. Sau 1975, dù ông được thủ tướng Phạm Văn Đồng tặng Bằng khen vì có công với cách mạng nhưng những năm tháng sống cùng mẹ ở Quảng Bình, chị bị liệt vào hàng có bố đi Nam theo địch. Cái lý lịch đen bị nhầm lẫn ấy đã khiến chị phải khốn đốn cả thời thơ ấu.

Cũng do cái lý lịch đen ấy mà học xong cấp ba ở trường sơ tán Ngư Hóa, chị không vào được đại học. Thế là đội bom Mỹ vượt 150 km đường núi về Lệ Thủy, khi thì lui cui với công việc bán hàng của mẹ ở HTX. Khi thì đi cấy lấy công. Những lúc rỗi thì  đọc sách và …làm thơ để giả bày nỗi niềm trong tận đấy tim một cô bé bị xa lánh. Từ những bài thơ, có những bài được giải ở  Báo Quảng Bình từ cấp II mà nhà thơ Hải Bằng phát hiện ra, giới thiệu chị vào Hội Văn nghệ Quảng Bình… Thế nên không biết, chị đã chọn thơ, hay chính thơ đã chọn chị.

Bởi có một điều thật lạ. Ông  ngoại chị sinh ra ở vùng  An Cựu-Huế và chơi đàn bầu rất hay, thường đánh đàn trong các đám hát. Bà ngoại tôi yêu ông  cũng vì tiếng đàn ấy. Bà cũng là người hát ca Huế rất hay. Còn nhớ khi sắp mất, bà hát một câu ca Huế từ điệu Nam Bằng chuyển sang Nam Ai thì không lên nổi và trút hơi thở cuối cùng bằng điệu ca đó. Từ nhỏ, nhà thơ rất thích hát.  Những năm 1966 chiến tranh ác liệt, mỗi lần đi học, chị thường gặp các cô bộ đội trong đoàn văn công xinh đẹp trên đường vàoNam. Tự dưng, chị ao ước muốn được như họ. Thế là một lần, nhờ người quen giới thiệu, chị  đăng ký thi vào đoàn văn công và không ngờ hát đựoc điểm 10. Đ ược nhận vào đoà n, lâm Thị Mỹ Dạ đã tạm biệt thầy cô, chuẩn bị vác ba lô lên đường. Chị nói với mẹ: Con sẽ vào Nam. Bà khóc ngất: Mẹ chỉ có mình con mà bom đạn chiến tranh thì ác liệt… Thương mẹ quá, chị không đành lòng đi.

Năm 1971, ở tuổi 20, Lâm Thị Mỹ Dạ đạt giải Nhất báo văn Nghệ với bài Khoảng trời và hố bom.Một sự kiện chính thức ghi dấu cái tên lâm Thị Mỹ Dạ vào văn đàn thi ca Việt Nam. Một bài thơ về chiến tranh, được viết bởi một trái tim nhiều oan khuất, viết dưới làn bom giặc  nhưng thấm đẫm chất nhân văn.

Bốn mươi năm đã trôi qua, nói về xuất xứ bài thơ, chị vẫn nhớ như in từng chi tiết. Đó là năm 1970, trong một chuyến thực tế ở đường 10, khi ấy đang rất ác liệt. Chị gặp một đội thanh niên xung phong đang làm đường, trong đó có một cô đã lớn tuổi. Hỏi ra mới hay cô ấy người Quảng Ninh đã được giải ngũ 3 năm trước nhưng về đến nhà thì cả gia đình đã bị bom Mỹ giết chết. Ngôi nhà thân yêu của chị chỉ còn lại cái hố bom sâu hoắm và những mảnh bát vở vung vãi. Sau mấy ngày ở nhờ nhà bà con, chị lại khoác ba lô vào chiến trường… Câu chuyện trở thành nỗi ám ảnh trong lòng nhà thơ. Năm 1972, sau ngày có lệnh ngừng bắn, Lâm Thị Mỹ Dạ có dịp trở lại con đường đó, hỏi đến đơn vị của chị thì không ai biết nữa. Không biết ai còn, ai mất. Chỉ còn những hố bom đọng nước với  những khoảng trời vời vợi. Sau chuyến đi trở về nhà được mấy ngày, nhà thơ ra sông giặt áo và bỗng  sững sờ gặp lại hình ảnh  khoảng trời trong xanh lung linh đáy nước. Những ám ảnh về cái hố bom trổi dậy. Chị  bỏ quên cả quần áo giặt dở, chạy về nhà để viết Bài thơ Khoảng trời và hố bom sau đó được giải Nhất  cuộc thi thơ trên Báo Văn nghệ năm 1971-1973, lúc chị  vừa tròn đôi mươi.

Trở lại tập thơ thứ 8 của chị. Nó giống như một sự đúc kết những vui, buồn, khát vọng… của cả một đời người. Kể cả những điều mà có lẽ một người khôn ngoan, họ sẽ chẳng nói ra. Chị đính chính: Thực ra, có những bài là  tôi nói hộ cho người khácNhư bài Tiễn anh bên đầm sen viết năm 1969, lúc ấy tôi mới mười tám, đôi mươi và chưa biết yêu lần nào. Đó là cảnh chia tay của anh lính trẻ với chiếc ba lô trên vai, chuẩn bị ra chiến trường và người con gái mĩm cười, mắt ngấn lệ. Xe chuyển bánh, để lại sau lưng  đầm sen với khoảng trời xanh ngắt. Cái cảnh chia ly ấy, sao mà đẹp thế. Tôi bần thần  nghĩ, không biết bao giờ người lính mới trở về, còn đầm sen, đến mùa lại nở trắng những bông hoa. Hay cách đây khoảng chục nămmột nữ doanh nhân ở T.P Hồ Chí Minh, sau khi đọc bài ừ thôi tưởng tượng, đã hẹn gặp tôi  bằng được. Gặp nhau chị khóc, bảo: Cuộc đời chỉ cần cho tôi một tưởng tượng  ấy của chị thôi, cũng đã đủ rồi… Cho nên, cái tôi ấy trong thơ âu cũng chỉ là một sự hóa thân.

Nhưng cũng có những bài thơ, người đọc có thể cho rằng tôi dại. Tôi uỷ mị. Tôi đa mang. Tôi  bất hạnh Nhưng không sao. Đó chính là con người thật của tôi. Người ta chỉ đạt đến thơ như khi một qủa trứng nóng bức tới mức tự nó phải tách vỏ nở ra đời sống -một đời sống sinh động, có hình hài. Mà muốn có những bài thơ như thế thì phải sống thật với chính mình. Một khi ta tự lừa dối chính ta thì thơ không còn là thơ nữa.

Còn bây giờ, ở tuổi 60, đọc lại cả một gia tài thơ của mình, chị có thể nói gì về thơ? Chị lại từ tốn, sau một lúc im lặng: “Đọc lại, có cả những cái mình thích. Có cả những cái không thích. Có niềm vui và cả nỗi buồn. Vui nhất là một lần, cách đây khoảng chục năm, tôi đọc đựơc một câu chuyện trên báo Tiền Phong. Chuyện thăm dò thị hiếu đọc của nông dân. Thăm dò mãi mới tìm đựợc  một bác nông dân có đọc báo. Hỏi đọc báo gì? Trả lời là Báo Văn nghệ. Hỏi thích đọc mục gì?. Bác nông dân bảo: Đọc bài hố bom của anh Lâm Mỹ Dạ. Đó là  niềm vui của người làm thơ.

Sau khi bài Khoảng trời và hố bom đạt giải nhất Báo Văn nghệ, tôi chịu một áp lực ghê gớm. Tự dằn vặt, sau giải thưởng, mình phải viết thế nào đây?. Đến mức sau đó tôi làm được khoảng 10 bài nhưng đốt sạch vì mặc cảm thơ. Nhưng rồi thơ lại cứ đến, như một thứ quà trời cho.

Kim Oanh – Phong Diep.net

Ho Bom 2.tnxp

Khoàng trời và hố bom

 “…Tôi nhìn xuống hố bom. Nước đọng lại những khoảng trời trong vắt. Một cánh chim bay qua. Một đám mây bay qua. Cả mặt trời cũng dừng lại nơi này. Ai đã chết ở đây? Là ai? Là ai?… Tôi nhớ đến những người lính cảm tử, những người nữ thanh niên xung phong mà tôi đã gặp. Biếtđâu họ cũng đã hoá thành một  khoảng trời trong hố bom này! 
–  Các bạn ơi! Các bạn ở nơi nào ? Tôi kêu lên. Im lặng. Không có tiếng trả lời. Mà chỉ có những khoảng trời lặng lẽ vời vợi nhìn tôi.      
Bài thơ Khoảng trời hố bom của tôi đã được viết ra từ sự thật bi tráng đó.

LTMD

 KHOẢNG TRỜI HỐ BOM 
Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường
Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương
Cho đoàn xe kịp giờ ra trận
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
Đánh lạc hướng quân thù. Hứng lấy luồng bom…

Đơn vị tôi hành quân qua con đường mòn
Gặp hố bom nhắc chuyện người con gái
Một  nấm mộ nắng ngời bao sắc đá
Tình yêu thương bồi đắp cao lên…

Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em
Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ
Đất nước mình nhân hậu
Có nước trời xoa dịu vết thương đau.

Em nằm dưới đất sâu
Như khoảng trời nằm yên trong đất
Đêm đêm, tâm hồn em toả sáng
Những vì sao ngời chói lung linh
Có phải thịt da em mềm mại trắng trong
Đã hoá thành những làn mây trắng ?

Và ban ngày khoảng trời ngập nắng

Đi qua khoảng trời em – Vầng dương thao thức

Hỡi mặt trời, hay chính trái tim em trong ngực

Soi cho tôi
Ngày hôm nay bước tiếp quãng đường  dài .
Tên con đường là tên em gửi lại
Cái chết em xanh khoảng trời con gái
Tôi soi lòng mình trong cuộc sống của em

Gương mặt em bạn bè tôi không biết 
Nên mỗi người có gương mặt em riêng…

                              1972

  Trên Facebook cá nhân, nhà văn Nguyễn Quang Thiều – chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam – viết về sự ra đi của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ:

“Từ mấy chục năm trước, tôi đã gọi chị là một thiên thần bay xuống trần gian bởi gương mặt chị đẹp và thánh thiện, bởi tâm hồn chị trong sáng vô ngần và bởi những câu thơ của chị luôn vang lên như những khúc ca của yêu thương, dịu dàng và mang một đẹp mong manh nhưng đầy lan tỏa.

Hình như chị xuống thế gian này chỉ để hiển hiện một gương mặt đẹp, một tâm hồn trong sáng và để vang lên những câu thơ của yêu thương và che chở. Ngay cả những câu thơ chị viết về những mất mát trong chiến tranh cũng vang lên vẻ đẹp ấy.

Trong bài thơ nổi tiếng Khoảng trời – hố bom, chị viết:

Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em

Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ

Đất nước mình nhân hậu

Có nước trời xoa dịu vết thương đau”

Lúc này, tôi mang cảm giác mọi bông hoa đang nở trong mùa hạ đều mang vẻ đẹp của gương mặt chị, của tâm hồn chị và của thơ ca chị. Xin cúi đầu tưởng nhớ chị và xin ngước mắt nhìn phía ánh sáng nơi chị bay về”…

                                   (Nguyễn Quang Thiều.)

 

 

Bài 32

CHO CON THÊM VÀI NĂM !

     Khoảng cuối tháng 5/2015, ông Hoàng Phủ Ngọc Tường cùng gia đình từ TPHCM ra Huế chơi. Chơi được vài hôm cùng bạn bè, ông Tường đột quị hôn mê. Ông Hoàng Phủ Ngọc Phan đã ra Huế, mua đất, bàn chuyện lễ tang, điếu văn, hậu sự… Thế nhưng nhờ các y bác sĩ ở bệnh viện của Đại học Y Dược Thành Phố Huế tận tình cứu chữa, sau gần một tháng hôn mê, ông Tường đã hồi tỉnh và được chuyển vào tiếp tục điều trị ở bệnh viện của Đại học Y Dược TPHCM. Trong những đêm thức trắng ở bệnh viện ở Huế, con gái lớn của ông – Hoàng Thị Dạ Thư đã viết bài thơ “Cho con thêm vài năm”… Hình như tấm lòng hiếu thảo của cô con gái này đã cảm đến trời Phật ông bà nên ông Tường đã “thoát hiểm” thêm một lần nữa. 

Cho con thêm vài năm
Để mỗi sáng được đẩy ba xuống uống ngụm trà nhìn người qua lại
Để được thấy mắt ba hiền từ cúi trên trang báo
Vẫy tay khi con xách túi chợ về
Cho con thêm vài năm
Hơn bốn mươi nhưng con vẫn yếu đuối trước cuộc đời
Nước mắt vẫn trào mỗi lần chỉ mới nghĩ về mất mát
                                                                                          DẠ THƯ 

**MẸ ƠI!

Lễ tưởng niệm Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ tại trụ sổ Hội Văn Nghệ Huế.

     Thế là người mẹ hiền kính yêu của chúng tôi-bà Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhũ danh Lâm Thị Mỹ Dạ đã vĩnh viễn ra đi. Trong giờ phút đau thương này, đúng ra người có nhiều điều để nói nhất là Ba của chúng tôi nhưng thương thay, ông Tường lại bệnh nặng, như ngọn đèn sắp tắt. Vậy hai chị em chúng tôi là Hoàng Thị Dạ Thư và Hoàng Thị Dạ Thi xin mạn phép thay mặt gia đình bày tỏ đôi lời.

Trước hết chúng tôi xin trân trọng cảm ơn quí cơ quan, đoàn thể và thân bằng quyến thuộc từ nhiều năm nay đã có lòng quan tâm chăm sóc, giúp đỡ và an ủi Ba và Mẹ chúng tôi, nhất là trong những ngày cuối cùng của mẹ Mỹ Dạ.

Chúng tôi cũng rất bất ngờ và vô cùng cảm kích  trước nhiệt tình và kỹ năng tác nghiệp của giới truyền thông. Chỉ trong vòng một sáng một chiều ngày 6.7.2023,sau khi mẹ Mỹ Dạ từ trần, một lượng tin và bài phong phú và đa dạng của hơn 70 cơ quan báo chí trung ương và địa phương đã hầu như phủ sóng trên mạng. Phần lớn tác giả các bài viết ấy từng là dồng chí, đồng đội hoặc là đồng nghiệp của mẹ nên đã giúp cho bạn đọc hiểu được thêm nhiều ý nghĩa sâu sắc trong cuộc đời hoạt động và sáng tác của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.

  • Nhà biên kịch Hồng Ngát, một trong những bạn gái thân nhất của mẹ đã viết những lời tiển biệt nhẹ nhàng như gió thoảng “Giờ bạn đi rồi, hết một đời trần gian vinh quang cũng nhiều mà bị kịch cũng không ít, nhất là những năm cuối đời. Thôi yên nghỉ nhé, mệt mỏi vất vả đủ rồi. Bay đi thanh thản với trời xanh mây trắng.”
  • Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn có nhiều kỷ niệm buồn vui với Lâm Thị Mỹ Dạ:Thơ Mỹ Dạ rất nhiều bài hay nhưng hôm nay, tôi chỉ xin đọc một câu của Mỹ Dạ làm tôi rơi nước mắt và thương yêu cô ấy biết bao. Đó là ‘Ước gì cầm được cô đơn – Ném thia lia để hóa buồn thành vui’…”
  • Bài thơ được nhiều người yêu thích và có lẽ cũng là tác phẩm tâm đắc nhất của Lâm Thị Mỹ Dạ là bài “Khoảng trời và hố bom” đoạt giải Nhất cuộc thi thơ trên Báo Văn nghệ năm 1971-1973, lúc tác giả vừa bước vào tuổi đôi mươi. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã nhắc lại khoảng trời ấy, hố bom ấy với những cảm xúc mới mẻ: “ Ngay cả những câu thơ chị viết về mất mát trong chiến tranh cũng toát lên vẻ đẹp ấy. Trong bài thơ nổi tiếng Khoảng trời, hố bom chị viết: “Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em/ Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ/ Đất nước mình nhân hậu/ Có nước trời xoa dịu vết thương đau“.Lúc này, tôi cảm giác mọi bông hoa đang nở trong mùa hạ đều mang vẻ đẹp của gương mặt, tâm hồn và thơ ca của chị. Xin cúi đầu tưởng nhớ và xin ngước mắt nhìn phía ánh sáng nơi chị bay về.”
  • Trong ký ức của nhà thơ Ngô Minh, một bạn học cùng trang lứa với Mẹ Dạ thì : “Mỹ Dạ đẹp, giỏi văn, lại hát hay, giọng ngâm thơ tốt, nên đã trở thành nhân vật chính trên sân khấu trường tôi thời ấy. Tôi nhớ mỗi lần Dạ mặc bộ áo lụa đen bước ra sân khấu, nghiêng chào rồi cất tiếng giới thiệu chương trình văn nghệ, là tiếng vỗ tay nổi lên rào rào…Có lần Mỹ Dạ đạt điểm 10 trong một cuộc thi hát của đoàn văn công.”

Xin nói thêm gia đình bên ngoại chúng tôi rất có truyền thống văn nghệ. Các cậu,các dì và các cháu đều có trình độ biểu diễn ca nhạc chuyên nghiệp.Thế nhưng tại sao Mẹ Dạ không trở thành văn công mà lại trở thành nhà thơ? Xin thưa,vì tuổi thanh xuân của mẹ đã bắt gặp trên đường chiến đấu một “Khoảng trời và hố bom”. Có thể nói, Thơ đã nhanh tay chọn Mẹ Dạ vào sổ đoạn trường, mà giải nhất của bài thơ này là điểm khởi đầu lấp lánh của sự nghiệp sáng tác.

 

Có một sự chọn lựa khác cũng hết sức quan trọng là chọn người bạn đời. Sao lại là Ba Hoàng Phủ Ngọc Tường? Đây là tình yêu và duyên số.

Chuyện tình này đã được kể lại trên website thuviengiaoan như sau:

 

“ Đầu năm 1973, đang làm Trưởng ty Văn hóa Quảng Trị, Hoàng Phủ Ngọc Tường đi nhờ xe đạo diễn Hoàng Tích Chỉ ra thăm miền Bắc. Đến Đồng Hới, hai anh em ghé thăm Hội Văn nghệ Quảng Bình ở nơi sơ tán Phú Vinh.

Tại đây người trí thức Huế  nổi tiếng trong phong trào đô thị Miền Nam ấy đã bị nữ nhà thơ trẻ xinh đẹp Lâm Thị Mỹ Dạ hớp hồn.

Hoàng Phủ nhớ lại: “Hồi ấy ở Hội Quảng Bình nhà văn Trần Công Tấn là “ông mối” nhiệt tình nhất. Chúng mình thư từ qua về sáu tháng sau là cưới”.

  • Lúc ấy, anh đọc thơ Mỹ Dạ chưa?”.
  • “Ở chiến khu mình  đã có đọc vài bài thơ  của Mỹ Dạ trên báo. Ra đây nghe các anh giới thiệu, mới biết Mỹ Dạ vừa giành được giải Nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ Nhưng thơ không quan trọng. Mình “bị sốc” vì Dạ quá hiền dịu và rất dễ thương”.

-“Lúc ấy Dạ đã đọc gì của anh Tường chưa?”.

-“ Mỹ Dạ  chỉ biết Hoàng Phủ Ngọc  Tường là một mẫu thanh niên yêu nước ở Miền Nam.Mà loại thanh niên Miền Nam như mình ra Miền Bắc xã hội chủ nghĩa thì ngó… “dễ thương” như người ngoài hành tinh.

Nghĩa là trước khi đến với nhau, họ đều là những người cầm bút đang bước những bước đầu tiên trên con đường văn chương thăm thẳm.

Đám cưới Tường Dạ hoàn toàn do bạn bè văn nghệ người Huế ở Hà Nội chung tay lo liệu. Nữ nhà văn Ngọc Trai lo xoong nồi chén bát, chỉ huy nấu nướng món Huế.

Chị Trai nhớ lại, lúc đó “Tường thì lơ ngơ, còn Dạ lại như con nai vàng, thương lắm”. Nhà văn Trần Nguyên Vấn lo in thiệp cưới, rồi đạp xe đi mời từng người.

Trần Công Tấn từ Đồng Hới chèo đò 20 cây số lên Lệ Thủy chở mẹ Dạ về Đồng Hới rồi đưa ra Hà Nội dự đám cưới con gái. Thời đó Hà Nội không có cửa hàng cho thuê áo dài cưới như bây giờ.

Nghệ sĩ Thanh Vy, đoàn cải lương Trần Hữu Trang Nam Bộ dẫn Dạ về đoàn để mượn áo dài là trang phục diễn viên. Dạ – Tường chọn cả buổi mới được một bộ vừa ý.

Ngày 27/10/1973, bạn bè văn chương Thủ đô đến chật khu nhà 51- Trần Hưng Đạo mừng tân hôn hai người. Gia đình Hoàng Phủ ở Huế không ai biết con trai cưới vợ.

Thay mặt gia đình bên trai là bà Hoàng Thị Ai, người cô họ của Tường, lúc đó là Chủ tịch Hội phụ nữ Việt Nam. Những ngày đông Hà Nội đó, Hoàng Phủ làm thơ tặng Mỹ Dạ:

Em, chắc em sẽ không quên/ Gốc sấu già đổ bóng dài trên thảm cỏ/ Anh đứng chờ em ở đó Mai giã từ Hà Nội/ Ta về miền nắng chói/ Nhưng có bóng im nào che đời ta mát hơn/ Một không gian xanh biếc giữa tâm hồn”. Đó là ngày mà số phận và văn chương đã kết nối hai người.

 

Trong 49 nhà văn được đề nghị tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2006 có cặp vợ chồng duy nhất cùng được giải: Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ. Sau bấy nhiêu năm chung sống,, điều gì giúp cả hai vượt qua bao trở lực cuộc đời, trở thành những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng được bạn đọc yêu mến? Tình yêu! Vâng, tình yêu chắp cánh cho văn chương của ba mẹ. Sau khi tình yêu và hôn nhân đơm hoa kết trái, Lâm Thị Mỹ Dạ đã mở thêm cho mình một con đường mới là sáng tác cho thiếu nhi nhưng trước hết chính là tình mẹ cho hai cô con gái yêu của mình. Có một điều ít người biết là Mẹ Dạ còn đam mê sáng tác ca khúc. Đặc biệt là ca khúc Hoa ngô đồng – Thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường – Nhạc:Lâm Thị Mỹ Dạ – Người biểu diễn là ca sĩ Minh Huệ, em họ của Mẹ. Người đệm đàn tranh là cháu gái Ly Trang. Đúng là một tác phẩm cây nhà lá vườn trọn gói, rất điển hình cho nếp nhà của gia đình Lâm Thị Mỹ Dạ-Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Trong một lần về thăm quê hương Quảng Bình của Mỹ Dạ, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có  thêm một bài cảm đề về tình yêu giữa hai người như sau:

Những hành tinh ngẫm rồi thấy lạ/ Bồng bềnh mà vẫn theo nhau/ Anh với em ừ thì cũng lạ/ Bồng bềnh cho tới mai sau… 

    Mẹ ơi! Bây giờ mẹ đi rồi và chắc không bao lâu nữa  ba cũng sẽ ra đi. Chúng con nguyện cầu cho hai người vẫn bồng bềnh theo nhau không chỉ cho tới mai sau mà cho tới kiếp sau.

Tất cả những gì đã viết trên đây đều là chuyện khi chúng con chưa ra đời. Các bác các cô các chú đã nói hết cả rồi.Tuy vậy, chúng con vẫn còn hai câu thơ rất cũ dành cho những đứa con hiếu thảo:

Công CHA như núi Thái Sơn

Nghĩa MẸ như nước trong nguồn chảy ra…

                                         HOÀNG THỊ DẠ THƯ-HOÀNG THỊ DẠ THI.

Hoa Ngo Dong

Hoa Ngô Đồng

(Thơ: Hoàng Phủ Ngọc Tường.Lâm Thị Mỹ Dạ phổ nhạc-Hai cháu là Minh Huệ và Ly Trang hát và đệm đàn tranh.Một tiết mục văn nghệ gia đình trọn gói.)

Thơ

 

 

Bài 33

* Những năm gần đây,trong đời sống văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam đã xuất hiện hai ngội sao thuộc dòng họ Hoàng chúng ta:

1.- Đạo diễn Hoàng Nhật Nam (Đ.18)-con trai nhà báo Hoàng Hữu Quyết.

2.- Họa sĩ Hoàng Thy Trúc Nhi (Đ.18)-con gái ông Hoàng Hữu Kim Dzật và là cháu nội ông Hoàng Hữu Kham.

     Họ đều còn rất trẻ.Con đường phát triển của cả hai tuy mới bắt đầu nhưng đã tỏa sáng để nối mạch thư hương cho gia tộc.NẾP NHÀ xin bày tỏ lòng ngưỡng mộ và giới thiệu vài nét về sự thành công của họ.

***

                                               Đạo diễn

HOÀNG NHẬT NAM  (Đ 18)

    Hoàng Hữu Nhật Nam (sinh ngày 12 tháng 3 năm 1980 tại Đà Nẵng), thường được biết đến với nghệ danh Hoàng Nhật Nam, là một đạo diễn các show trình diễn nghệ thuật, văn hoá, giải trí người Việt Nam, đồng thời là tổng đạo diễn của nhiều sự kiện mang tầm vóc quốc gia và quốc tế.Hiện anh cùng vợ là doanh nhân Phạm Kim Dung đồng quản lý Sen Vàng Entertainment – công ty có mục đích đưa các nhan sắc Việt đi thi quốc tế.

Hnn 3

Đạo diễn HOÀNG NHẬT NAM

Tiểu sử

     Hoàng Nhật Nam (sinh ngày 12 tháng 3 năm 1980) có tên thật là Hoàng Hữu Nhật Nam, là người thuộc dòng họ Hoàng Hữu, họ hàng có nhiều đời làm quan tại Triều đình Nguyễn Sinh tại Đà Nẵng, nhưng nguyên quán ở Triệu Phong – Quảng Trị. Tính cách và năng khiếu nghệ thuật của Hoàng Nhật Nam chịu ảnh hưởng khá nhiều từ gia đình và sớm bộc lộ từ khi còn nhỏ, thích vẽ tranh, viết văn, văn nghệ…Tham gia học Ngữ Văn – Báo chí tại Đại học Khoa học Huế, tốt nghiệp Thạc sĩ Văn học Việt Nam tại Đại học Đà Nẵng và Cử nhân ngành Đạo diễn điện ảnh – trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, anh bắt đầu sự nghiệp với vai trò đạo diễn cho nhiều chương trình nghệ thuật phát sóng truyền hình định kỳ ở khu vực miền Đông, miền Tây Nam Bộ như Hoa khôi Đồng bằng sông Cửu Long, Những dòng sông hò hẹn, Âm vang miền Tây, Giai điệu phương Nam… Hoàng Nhật Nam dần được trao trọng trách đạo diễn trong những sự kiện văn hóa, nghệ thuật mang tầm cỡ quốc gia như như Hoa hậu Việt Nam, Festival hoa Đà Lạt, Festival cà phê Buôn Ma Thuột, Liên hoan phim Quốc tế Hà Nội (Haniff), Liên hoan phim Việt Nam, lễ trao giải Mai Vàng, lễ trao giải Âm nhạc Cống hiến…Hiện tại, Hoàng Nhật Nam vẫn tham gia công tác viết kịch bản show văn hóa giải trí, làm đạo diễn, chỉ đạo nghệ thuật, cố vấn chuyên môn cho hàng loạt các chương trình nghệ thuật, gameshow giải trí.

Ảnh hưởng từ gia đình

Hoàng Nhật Nam có quê nội ở làng Bích Khê – Triệu Phong – Quảng Trị. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống khoa bảng, hiếu học. Anh có họ hàng với nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nhà thơ nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà báo Hoàng Phủ Ngọc Phan (Hoàng Thiếu Phủ). Trong dòng họ có ông Hoàng Hữu Xứng (黃有秤; 18311905) là danh thần nhà Nguyễn ở cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 trong lịch sử Việt Nam. và vị quan trải qua các triều đại đầy sóng gió thời Nguyễn, bắt đầu từ năm Tự Đức 5 (năm 1852) đến khi hưu trí năm Thành Thái 12 (năm 1900), Hoàng Hữu Xứng được bổ nhiệm qua nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình, thăng dần đến chức Hiệp biện đại học sĩ sung Quốc sử quán Phó Tổng tài kiêm Kinh diên giảng quan.Ông còn là một tác gia biên soạn một số bộ sách Sử ký,Địa dư quan trọng của triều Nguyễn.

Hoàng Nhật Nam được thừa hưởng tinh thần và tính cách nghệ sĩ từ gia đình, vốn là những người rất yêu thi – ca – nhạc – họa và cái đẹp. Mẹ anh có thể ca hát, viết văn, thêu thùa, ngâm thơ còn bố là nhà báo Hoàng Hữu Quyết cũng có sở trường viết lách, đàn hát với guitar. Anh từng đạt giải Nhất học sinh giỏi môn Văn học toàn thành phố Đà Nẵng (năm lớp 10), huy chương Đồng kỳ thi Olympic 30/04 (năm lớp 10), giải Ba học sinh giỏi môn Văn toàn thành phố Đà Nẵng (năm lớp 11), huy chương Bạc môn Văn kỳ thi Olympic 30/04 (năm lớp 11). Nằm trong nhóm đào tạo hạt giống văn chương từ năm lớp 8 đến các năm học cấp 3.

Hoang Nhat Nam Ve Lang

                                                           Hoàng Nhật Nam làm lễ tại nhà thờ họ Hoàng ở làng Bích Khê.

Sau khi tốt nghiệp tại Đại học Đà Nẵng, Hoàng Nhật Nam [1][2] tiếp tục theo học chuyên ngành Đạo diễn điện ảnh tại Đại học Sân khấu – Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh. Anh chia sẻ nghệ thuật với anh có một sức hút khó cưỡng, đó cũng chính là lý do anh đã thay đổi ước mơ trở thành nhà báo để theo đuổi công việc của một đạo diễn các chương trình quốc gia. Năm 2009, Hoàng Nhật Nam lần đầu bén duyên với sân khấu với chương trình Người đẹp Hoa anh đào. Trải qua nhiều năm bôn ba dàn dựng các chương trình nghệ thuật ở khu vực phía Nam, Đông Nam Bộ, anh liên tiếp góp mặt trong những chương trình lớn như Hoa hậu Việt Nam, lễ trao giải Mai Vàng, liên hoan phim quốc tế Hà Nội,… trong vai trò Tổng đạo diễn. Những sân khấu do anh dàn dựng đều được khai thác ý tưởng từ chất liệu sẵn có, đặc biệt là những tinh hoa lâu đời hay nét văn hóa đặc trưng của mỗi vùng miền. Sau này, anh tham gia sản xuất và đảm nhận vai trò giám khảo, cố vấn chuyên môn cho nhiều gameshow truyền hình,…[3]

Đạo diễn sự kiện văn hóa, nghệ thuật

  • Năm 2017, Hoàng Nhật Nam nhận được lời mời từ tập đoàn Tuần Châu để xây dựng vở diễn thực cảnh tại Việt Nam mang tên “Tinh hoa Bắc Bộ”, anh tự tay viết kịch bản và tham gia chỉ đạo nghệ thuật. Chương trình quy tụ sự góp mặt của gần 200 diễn viên là nông dân và sinh viên trường múa trên sân khấu mặt nước 4.300 m2, được đánh giá là một trong những sự kiện văn hóa nổi bật của năm, mang về nhiều lời khen từ khán giả và giới chuyên môn cũng như các giải thưởng, kỷ lục danh giá trong nước và quốc tế[98][100]. Tuy nhiên, vở “Tinh Hoa Bắc Bộ” dính vào lùm xùm tranh chấp về bản quyền, bị tòa án sơ thẩm tuyên bố là “tác phẩm phái sinh” của vở “Ngày Xưa”[101][102], tác giả đạo diễn Việt Tú, dù trước đó đã được Cục bản quyền tác giả (thuộc Bộ VHTTDL) cấp giấy chứng nhận quyền tác giả. Phiên tòa đưa ra bản án kết luận “phái sinh” khi không mời tác giả Hoàng Nhật Nam tham gia với vai trò là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Sau nhiều lần xét xử và mời Hoàng Nhật Nam tham gia với vai trò liên quan với vụ việc, vào ngày 17/01/2020, Tòa án Nhân dân cấp cao thành phố Hà Nội đã tuyên hủy phản tố phái sinh, dừng mọi tranh chấp liên quan giữa hai vở “Ngày Xưa” và “Tinh Hoa Bắc Bộ”, qua đó khẳng định “Tinh Hoa Bắc Bộ” là tác phẩm nghệ thuật độc lập.[103]

Đạo diễn gameshow truyền hình, chương trình văn hoá nghệ thuật quốc gia

Dấu ấn của Hoàng Nhật Nam không chỉ dừng lại ở các chương trình văn hóa và nghệ thuật. Năm 2013, Hoàng Nhật Nam lần đầu thử sức tại lĩnh vực sản xuất chương trình truyền hình, sitcom hài, gameshow và gặt hái được những thành công nhất định. Tính đến nay, Hoàng Nhật Nam đã là tổng đạo diễn của rất nhiều chương trình truyền hình ăn khách như: Soi mình trong gương (THVL), Cà phê cười (THVL), Cà phê tám (VTV9), Ký sự pháp đình (THVL), series Người đẹp nhân ái – Hoa hậu Việt Nam 2016, 2018,2020 (THVL), Hành trình văn hóa Việt (THVL) và gần 10 gameshow với format hấp dẫn, thú vị phát sóng hàng tuần trên các kênh truyền hình THVL, HTV và VTV.[104]

  

Hnn Và Vợ

Hoàng Nhật Nam và bà xã Phạm Kim Dung

   Giám khảo cho các gameshow truyền hình

Với chuyên môn sân khấu vững vàng cùng nền tảng ngôn ngữ sâu sắc, năm 2018, 2019, Hoàng Nhật Nam lần đầu xuất hiện trước khán giả với tư cách giám khảo trong các gameshow tìm kiếm tài năng biểu diễn, ca hát…[105][106][107][108][109] Bằng sự duyên dáng và sâu sắc của mình, anh được các khán giả truyền hình ưu ái gọi với cái tên “Thánh thơ” khi liên tục đưa ra những lời nhận xét chân thành, thú vị và đầy ý tứ thơ ca. Hay là “đạo diễn nội tâm” với sự hài hước nhẹ nhàng, sâu sắc.

Những chương trình Hoàng Nhật Nam từng làm giám khảo:

  • Ca sĩ thần tượng mùa 1, 2 (cùng với Cẩm Ly, Minh Tuyết, Trấn Thành) (Phương Thanh, Trấn Thành mùa 3) –
  •   Tuyệt đỉnh song ca – Cặp đôi vàng mùa 2 (cùng với Quang Linh, Cẩm Ly, nhạc sĩ Minh Vy) (NSND Hồng Vân, Cẩm Ly, nhạc sĩ Minh Vy mùa 3) – THVL1 [107][112]
  • Tuyệt đỉnh song ca – Cặp đôi vàng nhí (cùng với Đoan Trang) – THVL1 [108][113][114]

     Thành tựu nổi bật

Trong sự nghiệp của mình, Hoàng Nhật Nam đã có được những thành tích nổi bật sau:

Vở diễn thực cảnh về văn hóa “Tinh hoa Bắc Bộ” do Hoàng Nhật Nam trực tiếp viết kịch bản và dàn dựng cùng ekip âm nhạc NSƯT Hồ Hoài Anh, biên đạo John Huy Trần liên tiếp gặt hái nhiều kỷ lục và giải thưởng quốc tế danh giá: hai kỷ lục Guinness Việt Nam: “Show diễn có sân khấu mặt nước lớn nhất Việt Nam” và “Show diễn có số lượng diễn viên là nông dân đông nhất Việt Nam”; giải vàng Stevie Awards Châu Á – Thái Bình Dương năm 2018; “Chứng chỉ Dịch vụ Xuất sắc 2019” của TripAdvisor; Giải thưởng “Chương trình biểu diễn văn hóa thực cảnh hàng đầu 2019” tại Hàn Quốc; The Guide Awards lần thứ 20 đã vinh danh Tinh hoa Bắc Bộ ở hạng mục giải thưởng – “Sản phẩm du lịch đột phá – Khi người nông dân trở thành sứ giả văn hoá du lịch” [98]. Kênh truyền hình CNN đã trực tiếp đến Hà Nội để phỏng vấn đạo diễn Hoàng Nhật Nam và bình chọn “Tinh hoa Bắc Bộ” là “vở diễn nhất định phải xem khi đến Hà Nội”.[97]

Là đạo diễn góp phần đưa cuộc thi Hoa hậu Việt Nam lên tầm cao mới với sự đổi mới nội dung, hình thức thể hiện, format mới lạ, hấp dẫn, tiệm cận với các cuộc thi nhan sắc quốc tế kể từ năm 2014 – khi công ty Sen Vàng chính thức hợp tác cùng báo Tiền Phong tổ chức. Qua các kì 2014, 2016, 2018, 2020, 2022 Hoàng Nhật Nam đã dàn dựng và góp công đưa yếu tố văn hóa Việt, công nghệ biểu diễn hiện đại vào các đêm diễn, lần đầu tiên các đêm chung khảo Bắc – Nam được đầu tư quy mô, chất lượng, bài bản để truyền hình trực tiếp lan tỏa khắp nước với concept ấn tượng, đặc sắc[115][116]. Các vòng thi phụ trở nên hấp dẫn hơn với hình thức truyền hình thực tế, livestream, các đêm diễn sống động, truyền cảm hứng như Người đẹp nhân ái, Người đẹp thời trang, Người đẹp biển, Người đẹp tài năng, Người đẹp truyền thông, Du lịch… Trở thành sự kiện nằm trong top các sự kiện văn hóa nghệ thuật nổi bật định kì 2 năm 1 lần tại Việt Nam. Các thí sinh đại diện cho nhan sắc Việt trở lại với đấu trường quốc tế một cách bài bản, có sự đầu tư và đạt được nhiều thành tựu đáng kể ở các cuộc thi quốc tế uy tín hàng đầu. Tiếp nối thành công là cuộc thi Miss World Vietnam – Hoa hậu thế giới Việt Nam 2019, 2022; Miss Grand Vietnam – Hoa hậu Hòa Bình Việt Nam 2022 được tổ chức với quy mô lớn khắp 3 miền [117]. Chuỗi chương trình nhan sắc mang lại tiếng vang lớn và uy tín. Góp phần tìm kiếm phát hiện nhiều gương mặt ấn tượng đạt thành tích cao đại diện cho Việt Nam.

Là người đứng đầu Sen Vàng Entertainment, cùng với “bà trùm hoa hậu” Phạm Kim Dung nắm giữ bản quyền đưa thí sinh dự thi các cuộc thi sắc đẹp quốc tế danh giá [118] như: Miss World (Hoa hậu Thế giới), Miss International (Hoa hậu Quốc tế), Miss Grand International (Hoa hậu hòa bình quốc tế), Miss Intercontinental (Hoa hậu Liên lục địa), Miss Asia Pacific International (Hoa hậu Châu Á – Thái Bình Dương), World Miss University (Hoa hậu sinh viên thế giới)… Với sự dẫn dắt của Sen Vàng Entertainment, lần đầu tiên, người đẹp Việt được vinh danh ở hạng mục danh giá Hoa hậu Nhân ái (Beauty with a purpose) tại Miss World 2017 – Hoa hậu Việt Nam 2016 Đỗ Mỹ Linh, top 40 tại Miss World 2017. Tiếp nối thành công đó, hoa hậu Việt Nam 2018 Trần Tiểu Vy lọt top 5 Hoa hậu Nhân ái và top 30 Miss World 2018. Á hậu Nguyễn Trần Huyền My, Á hậu Bùi Phương Nga, Á hậu Nguyễn Hà Kiều Loan đều liên tiếp lọt top 10 Miss Grand International vào các năm 2017, 2018, 2019; Hoa hậu Lương Thùy Linh lọt top 5 Hoa hậu Nhân ái Thế giới 2019 và top 12 Miss World 2019; Á hậu Nguyễn Tường San top 8 Miss International 2019; Nguyễn Thị Thanh Khoa đăng quang Hoa hậu sinh viên thế giới 2019. Đặc biệt, Nguyễn Thúc Thùy Tiên đăng quang Miss Grand International 2021, Lê Nguyễn Bảo Ngọc đăng quang Miss Intercontinental 2022 tạo nên dấu ấn lịch sử nhan sắc Việt qua hàng chục năm chọn lựa thí sinh đi thi quốc tế.Năm 2017, Hoàng Nhật Nam là đại diện Việt Nam duy nhất được Ban tổ chức Liên hoan phim các nước Đông Nam Á và Trung Quốc 2017 (ACFF 2017) mời tham gia vào hội đồng Giám khảo, bên cạnh các tên tuổi lớn của làng điện ảnh Đông Nam Á và Trung Quốc như đạo diễn – diễn viên Ngô Kinh, Tưởng Văn Lệ [119].

Z4193723873113 6f7bb89b3e6e62ef095e753d50c644b1

Hoàng Nhật Nam nhận giải thưởng quốc tế

Là tổng đạo diễn khởi đầu cho chuỗi chương trình Táo Xuân phát sóng trên đài truyền hình Vĩnh Long vào đêm giao thừa hàng năm được khán giả đón nhận nồng nhiệt: Táo Xuân Mậu Tuất 2018 – “Giải cứu Ngọc Hoàng”[120], Táo Xuân Kỷ Hợi 2019 – “Chuyện động ông trời”[121], Táo xuân Canh Tý 2020 – “Sao che được mắt trời” [122]. Với dàn nghệ sĩ đình đám qua các năm: Ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, NSƯT Hữu Châu (vai Ngọc Hoàng), Cẩm Ly (Thiên hậu), Việt Hương – Đại Nghĩa – Lê Giang – Huỳnh Lập – Diệu Nhi – Khả Như – Lâm Vỹ Dạ – Dương Lâm…Chương trình mang một màu sắc riêng thể hiện dưới lăng kính nhiều màu sắc, vui nhộn, bắt trend và có những mảng miếng hài hước, dân dã lồng ghép vào những sự kiện xã hội.

Với tình yêu các chất liệu văn hóa dân tộc, tháng 10 năm 2015, anh lần đầu tiên cho ra mắt gameshow về cải lương kết hợp với các bộ môn nghệ thuật khác mang tên “Tài tử tranh tài” [123]. Gameshow thu hút sự chú ý của truyền thông khi khơi gợi và tôn vinh tình yêu với bộ môn nghệ thuật cải lương – vốn đang dần mai một khi thị hiếu khán giả có sự thay đổi lớn. Đây là gameshow tiên phong tại Việt Nam tôn vinh nghệ thuật cải lương theo chiều hướng kết hợp với các yếu tố giải trí, trẻ trung và hài hước, gần gũi với nhiều khán giả, và thí sinh gồm 1 nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp kết hợp cùng 1 nghệ sĩ hài hay 1 nghệ sĩ hoạt động ở lãnh vực khác. Dàn giám khảo qua các năm: NSND Bạch Tuyết, Hoài Linh, Quang Linh, Thanh Hằng, Phi Nhung. Quán quân chương trình: NSƯT Hữu Quốc – diễn viên hài Thu Trang (2016); diễn viên hài Hồng Trang – Hoàng Dững (2017).

Đạo diễn gameshow tìm kiếm tài năng âm nhạc theo hình thức song ca tiên phong tại Việt Nam với các format đình đám: Tuyệt đỉnh song ca, Tuỵệt đỉnh song ca nhí, Cặp đôi vàng, Cặp đôi vàng nhí…Góp phần tạo nên thành công của các cặp đôi quán quân được khán giả yêu thích: Cao Công Nghĩa – Thiện Nhân, Đức Vĩnh – Quỳnh Anh… [124]

Sau hành trình sáng lập và vận hành sự kiện Thời Trang Vietnam Beauty Fest – một dự án quy mô, hoành tráng, quy tụ dàn Hoa Á hậu đình đám như Hoa hậu Nguyễn Thúc Thuỳ Tiên – Đỗ Mỹ Linh – Khánh Vân – Đỗ Hà – Lương Thuỳ Linh – Tường San… Cùng các gương mặt đình đám trong làng Thời trang: Minh Tú – Tú Hảo – Lệ NamNhà thiết kế nổi tiếng: Nhà thiết kế Lê Thanh Hoà, Đỗ Long, Nguyễn Minh Tuấn, Tùng Vũ, Hà Thanh Việt, Lê Ngọc Lâm…tạo dấu ấn khởi đầu cho dự án Thời trang mới mẻ trong hành trình cống hiến lặng thầm của Hoàng Nhật Nam. Chính những giá trị và sức ảnh hưởng mà Vietnam Beauty Fashion Fest mang đến, và cũng để tiếp nối cho những thành tựu của mình, cuối năm 2022, Hoàng Nhật Nam xuất sắc nhận được giải thưởng Đạo diễn Thời trang của năm (Fashion Director Of The Year) do tạp chí Harper’s Bazaar Vietnam trao tặng, giải thưởng này được xem như động lực để Hoàng Nhật Nam viết tiếp hành trình cống hiến của mình cho nghệ thuật nước nhà.

Hoạt động thiện nguyện

Năm 2021, Đạo diễn Hoàng Nhật Nam khởi xướng chương trình nghệ thuật thiện nguyện “Đà Nẵng triệu con tim hướng về” cùng hoa hậu Trần Tiểu Vy cùng các nghệ sĩ có quê quán ở Quảng Nam, Đà Nẵng quyên góp được hơn 6 tỷ đồng (gồm hiện kim, hiện vật) dành cho người dân bị ảnh hưởng do Covid19 tại Quảng Nam, Đà Nẵng. Chương trình kết nối đầu cầu ở Đà Nẵng, Quảng Nam, TP.HCM, Hà Nội và các kiều bào ở Mỹ, Ba Lan tạo sự lan tỏa lớn.

Năm 2021, tham gia Bếp ăn CLB thiện nguyện “Suối Mát từ tâm”. Hạt nhân của Bếp ăn Suối Mát Từ Tâm là Câu lạc bộ thiện nguyện Suối Mát Từ Tâm do Phạm Kim Dung – Tổng Giám đốc Công ty Sen Vàng, người được mệnh danh là “Bà Trùm Hoa hậu” cùng các hoa hậu, á hậu Việt Nam lập ra. Được sự tham gia, hỗ trợ của các văn nghệ sĩ, cán bộ nhân viên Công ty Sen Vàng, một số người tình nguyện, những Mạnh Thường Quân và sự đồng hành của Hội Doanh nghiệp trẻ Việt Nam, Bếp đã bền bỉ đỏ lửa suốt 3 tháng dịch bệnh đưa tới những địa chỉ cần thiết nhất 125.000 suất ăn và 11.000 phần quà an sinh.

Là đạo diễn của chuỗi hành trình truyền hình thực tế Người đẹp nhân ái từ năm 2016 đến nay tại Việt Nam (Beauty with a purpose), góp phần giúp đỡ nhiều hoàn cảnh khó khăn, lan tỏa vẻ đẹp nhân ái của các người đẹp Việt với sứ mệnh cao cả. Vợ chồng đạo diễn Hoàng Nhật Nam khởi xướng nhiều chuyến từ thiện cho vùng sâu, vùng xa trong bão lũ, thiên tai, dịch bệnh.

Trong gia tộc,Hoàng Nhật Nam là một thành viên trẻ nhưng thường tham gia đóng góp ,chia sẻ,gánh vác công việc chung với tinh thần trách nhiệm cao .Đây là một nhân tố mới mang tính kế thừa tích cực của dòng họ ta.

                                                          HOÀNG THỊ BẠCH HẠC

                                                                                                                               (Theo WIKIPEDIA)

Z2783949985117 F9a50f5b3caf1e8899ded8dc452e4d67

Quà của SEN VÀNG tặng bà con họ Hoàng nhân Tết Trung Thu

 

Hnn12

Hoàng Nhật Nam tặng quà cho bà con họ Hoàng ở TPHCM trong đại dịch COVID 19.

       File Cat 2d Cnc Hoa Hong 155428

 

 

[Bài 34

                                                 HOÀNG THY TRÚC NHI (TRÚC THY)

                                                                                                               

                                                              NGÔI NHÀ TUỔI THƠ

Hoàng Thy Trúc Nhi tốt nghiệp đại học

Hoàng Thy Trúc Nhi tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương

Với những trăn trở và tâm huyết cho việc giáo dục thiếu nhi, nhà sản xuất, MC, diễn viên Trúc Thy – giám đốc sáng lập Ngôi nhà Tuổi thơ đã cùng với ekip thực hiện series phim “Học viện những thiên tài nhí”.

Sau rất nhiều chương trình đồng hành cùng cộng đồng, Ngôi nhà Tuổi thơ đưa ra dự án phim giáo dục “Học viện những thiên tài nhí”. Đây là dự án dài hơi mà diễn viên Trúc Thy cũng chính là tác giả kịch bản đã đúc kết bằng 20 năm kinh nghiệm từ những trải nghiệm thực tế trong việc giáo dục cho trẻ em ở nhiều nước có nền giáo dục phát triển như Nhật Bản, Úc, Anh, Pháp, Mỹ…

Đi nhiều, tìm hiểu sâu, nghiên cứu kỹ, chính điều đó thôi thúc diễn viên, tác giả Trúc Thy thực hiện series phim này để giúp trẻ em Việt Nam vươn tầm thế giới, bắt đầu từng bài học nhỏ nhất nhưng thiết thực trong cuộc sống và xã hội hiện nay.

Ngoài tính giải trí mà mỗi tập phim “Học viện những thiên tài nhí” mang lại còn là những thông điệp nhân văn, những bài học giáo dục mang giá trị sâu sắc. Tính thực tế là điểm đặc biệt của phim, mong muốn của diễn viên Trúc Thy là các bé sẽ ứng dụng như thế nào ngoài thực tế thông qua mỗi tập phim.

Series phim “Học viện những thiên tài nhí” có sự tham gia của các diễn viên Quách Ngọc Tuyên, Hoàng Mèo, Trúc Thy, Yali Trần, Quốc Thịnh cùng dàn diễn viên nhí được đào tạo bởi công ty Ngôi nhà Tuổi thơ.

Phim được phát sóng trên kênh YouTV vào lúc 20h30 chủ nhật hàng tuần, bắt đầu từ 15/9 và sẽ được phát song song trên kênh truyền hình tại Mỹ, phát lại trên YouTube kênh POPS Kid và Ngôi nhà Tuổi thơ – Học viện những thiên tài nhí.

                                                                          Hoàng Thy Trúc Nhi                                                                                   (Theo Viettimes)

Trúc Thy Tìm Kiếm Tài Năng Nhí 4 768x1155

Truc Nhi Và Học Viện Những Thiêntài Nhí

                                                                           TRÚC THY và Học viện Những thiên tài nhí

Hit Ha Mùi đất Nước

                                                                            Ra mắt bộ sách của Trúc Thy dành cho thiếu nhi

Mau Cnc Hoa La Trang Tri 135038

Bài 35

                             NÓI THÊM VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TRÚC THY

             DÀNH CHO TRẺ EM MỒ CÔI 

     Nhắc đến Trúc Thy là nhắc đến một nghệ sĩ gắn liền với nhiều trẻ em nhất Việt Nam. Vì cô là một nhà huấn luyện đằng sau ống kính cho rất nhiều các tài năng nhí.

Nghệ sĩ Trúc Thy, sau khi Xác lập kỷ lục Người sáng tác bài hát để dạy và học Tiếng Anh nhiều nhất Việt Nam đã tiếp tục có nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật, hoạt động cộng đồng ý nghĩa. 

Mới đây nhất, cô chính thức thông báo đang kết hợp với công ty Nhạc Xanh để tìm kiếm những tài năng nhí mồ côi. Cả hai sẽ bắt tay đào tạo và định hướng phát triển cho các em cũng như lo về chỗ ăn, chỗ ở cho các em luôn, hiện đã được xây cất xong, rất sạch sẽ và tiện nghi.

Các em sẽ được học về văn hóa và học nghệ thuật để huấn luyện trở thành những ngôi sao vừa có đức, vừa có tài và kỹ năng sống.

“Với nhiều năm huấn luyện cho các tài năng nhí ở nhiều lĩnh vực như: ca hát, nhảy múa, thời trang, diễn xuất, thuyết trình, MC tôi biết mình cũng sẽ dành thời gian để huấn luyện về tâm lý cho các em rất nhiều vì các em đang là những con ngựa hoang không cha mẹ nên cần rất nhiều tình yêu thương của mọi người. Tôi muốn các em là người thành công và hạnh phúc để bù đắp cho những mất mát mà các em phải gánh chịu trong suốt thời gian qua” – Trúc Thy chi sẻ.

Các bậc phụ huynh biết đến Trúc Thy rất nhiều vì gần như các show truyền hình liên quan đến trẻ em Trúc Thy đều được mời huấn luyện. Hơn thế nữa, Trúc Thy cũng chính là người sáng lập Ngôi Nhà Tuổi Thơ – nơi đào tạo rất nhiều các tài năng như Kutin, Tin Tin, Mộc Quế Anh, Bảo Ngọc, A Bù, Đức Thanh ( VN idol nhí ) cùng nhiều các bạn nhỏ khác…
Ít ai biết, ngay tác phẩm truyền hình đầu tay khi mới vào nghề Trúc Thy đã nhận được giải thưởng trong Liên Hoan Truyền Hình Toàn Quốc với một phim ngắn dành cho trẻ em được mang tên “Về Quê Ngoại”
Sau đó, Trúc Thy được đơn vị cử đi học về các chương trình truyền hình dành cho trẻ em được giảng dạy trực tiếp bởi Chủ Tịch Hiệp Hội Truyền Hình Châu Á.

     Trúc Thy chia sẻ: “Tôi nhớ thầy khen tác phẩm tôi nhiều lắm. Nhưng tôi nghĩ thầy khen để động viên thôi.Sau đó, thầy đề nghị tôi nên tham gia các liên hoan phim dành cho trẻ em ở khu vực Châu Á. Thời gian đó, tôi chưa bao giờ đặt chân ra nước ngoài nên nghe hai chữ nước ngoài tôi xanh mặt rồi chứ ở đó mà đem phim giao lưu. Sau này, có cơ hội tôi dành nhiều năm sống ở nhiều nước khắp 5 Châu như một người bản địa để tìm hiểu thêm về văn hóa, con người và học hỏi những giá trị thực tiễn từ nhiều nước khác. Tôi gom góp để sau này hướng dẫn cho học trò của mình trong việc giảng dạy và hội nhập trong thời đại ngày nay”.Và lần này, cô dành tâm huyết của mình cho những trẻ mồ coi thông qua việc tìm kiếm những trẻ em mồ côi, có năng khiếu nghệ thuật để đào tạo trở thành nhân tài mai sau.
Hãy giới thiệu cho Nghệ sĩ Trúc Thy những bạn trẻ mồ côi, có năng khiếu nghệ thuật qua Facebook cá nhân: Trúc Thy 

Author:Hạnh Chi 

                                                                                                                                                     (phunuvietkhoinghiep.vn)

 

Trúc Thy Tìm Kiếm Tài Năng Nhí 2 768x1155

                                                                      Trúc Thy và  những thiên thần của mình.

Bài 36

HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN- (Đ 16)

 (HOÀNG THIẾU PHỦ)

1.a

Hoàng Phủ Ngọc Phan

Còn có các bút hiệu Hoàng Thiếu Phủ,Cô Tú trên báo Tuổi Trẻ Cười.-Ngọc Phang Lang trên các báo Thanh Niên-Hồn Việt…

          Sinh năm 1941 tại Huế.Trước năm 1975,học tại trường Quốc Học và Đại học Y khoa Huế.Từ 1963 đến 1966,tham gia các phong trào tranh đấu công khai ở Huế.Từ 1966-1975: Thoát ly ra vùng giải phóng,tham gia kháng chiến chống Mỹ.  Sau 1975: Công tác trong các ngành Điện ảnh,Báo chí,Xuất bản-

Hội viên Hội Điện Ảnh Việt Nam.Hội viên Hội Nhà Văn TPHCM

                                           –  Huy chương Chiến sĩ Văn Hóa.Huy chương Vì Sự nghiệp Văn học Nghệ thuật

                                           –   Huy hiệu Vì Thế hệ Trẻ

                                                     Sách đã in: Quán Ông Đồ.- Chuyện CƯỜI I-II-III,Dưới ánh hỏa châu

  •  Hoạt động Điện ảnh:
  • Đã có khoảng 30 kịch bản phim tài liệu được Xí Nghiệp Phim Tổng Hợp TPHCM thực hiện trong khoảng từ 1978-1986.Kịch bản phim tài liệu “Qua đảo Long sơn” đoạt Nhất -Liên hoan phim VN lần thứ VIII. Phim “Chữ thập Đỏ và bộ xương cá voi trắng”  hợp tác với đạo diễn  Bulgary Stoyan ENEV được bằng khen tại Liên hoan phim Varna (Bulgary).Đặc biệt, kịch bản phim truyện Phạm Công -Cúc Hoa  là phim truyện Video đầu tiên  của Việt Nam đã lập kỷ lục về doanh thu và số lượng người xem.Đây chính là phim đầu tay làm nên tên tuổi của các diễn viên Lý Hùng (Phạm Công)-Diễm Hương (Cúc Hoa) và Phương Dung (Tào thị).

 

 

Luu 4

Những bộ sách công trình nhiều tác giả của Nxb TRẺ do Hoàng Phủ Ngọc Phan tổ chức bản thảo và   biên soạn .             

Sach Khac

  • Trong lãnh vực xuất bản.-    Hoàng Phủ Ngọc Phan đã chủ trì biên soạn,biên tập và tham gia viết bài để xuất bản nhiều bộ sách .Đáng chú ý là những quyển sách công trình,nhiều tác giả,mang dấu ấn văn hóa,bản lãnh chính trị và thương hiệu của nhà Xuất bản TRẺ-TPHCM.Trong dịp kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Nhà xuất bản,Ban giám đốc đương nhiệm đã có nhận xét về người tiền nhiệm HPNP như sau:Góp mặt cùng TRẺ trong gia đoạn đầy thách thức của thời kỳ đầu đổi mới,phó giám đốc Hoàng Phủ Ngọc Phan đã góp sức lấp vùng trắng trong mảng sách Thanh Niên,khai thác đa dạng các loại đề tài,để lại dấu ấn của mình trên những trang sách mang đầy lửa nhiệt huyết của tuổi trẻ và bản lĩnh chính trị của một cơ quan xuất bản của Đoàn.Với tài hoa của người cầm bút và tầm nhìn của người làm sách anh đã cùng chung sức làm nên những tác phẩm vừa đáp ứng nhu cầu của bạn đọc vừa nâng tầm thương hiệu của sách Trẻ.Trân trọng tri ân anh Hoàng Phủ Ngọc Phan,Người tài hoa.”
Hpnp Nha Uyen

Hoàng Phủ Ngọc Phan -NHÃ UYỂN vẽ

THƠ TÌNH CẢM

05

Cakhuc

   Thơ sự đời

(còn gọi là Thơ trào phúng… điếu)

     Hoàng Phủ Ngọc Phan rất sở trường loại thơ trào phúng.Trên báo Thanh Niên ông từng  giữ chuyên mục Thơ Trào phúng …điếu,lấy bút hiệu là Ngọc Phang Lang.Trên báo Hồn Việt và Tuổi Trẻ Cưới,gọi là Thơ Sự Đời,lấy bút hiệu Hoàng Thiếu Phủ.Sau đây là vài ví dụ:

TsĐ 2

XÀniÊng

TIN THAM KHẢO. Cách đây không lâu, tại đường Nguyễn Bình- Quận Ngô Quyền-Hải Phòng xảy ra tai nạn giao thông giữa xe máy của một cậu sinh viên với xe hơi của một phụ nữ sang trọng và có chức quyền.Mặc dầu hai bên đều có lỗi nhưng người phụ nữ không cần biết cậu sinh viên bị thương nặng nhẹ như thế nào,trên xe bước xuống la mắng,bắt đền sinh viên làm xe hơi mình trầy sước.Khi cảnh sát can thiệp,làm biên bản và cho chở cậu sinh viên đi cấp cứu,bà ta cự cãi luôn với cảnh sát rồi thản nhiên lên xe rời hiện trường sau khi buông một câu rất sốc: “ CON NGƯỜI KHÔNG QUAN TRỌNG” .( Ý là cái mạng của cậu sinh viên không quan trọng bằng cái xe hơi của bà ta?). Câu nói này khiến “ bổn Phủ” – ( Hoàng Thiếu- ) chợt nhớ đến con Xà Niêng ở trên rừng … và nhớ rừng da diết.

    (Để  hiểu thêm về con nầy,xin  tìm đọc tiểu thuyết Cô gái Xà Niêng của Vũ Hạnh,xuất bản ở Sài Gòn trước 1975.Nhà xuất bản Trẻ tái bản và Xí Nghiệp Phim Tổng Hợp TPHCM dựng thành phim truyện vào khoảng thập niên 1990.)

Biem Hoa Htp

VĂN XUÔI TRÀO PHÚNG

CHUYỆN CƯỜI

CỦA HOÀNG THIẾU PHỦ

  •  ÔNG ” BÔN TẬP  “VÀ THẰNG VĂN HÓA
  • Chúng tôi biết ông từ hồi còn ở trong rừng. Bí danh của ông là Tư Beo, phụ trách một chốt giao thông quan trọng trên đường hành lang. Hôm ấy, có một sự cố gì đó khiến giao thông tắc nghẽn, hàng trăm xe cộ tấp vào bìa rừng, chờ lệnh của thủ trưởng Tư Beo điều độ từng chiếc một tién lên phía trước. Xe nào chở những nhân vật quan trọng hoặc bộ đội chiến đấu được Tư Beo cho ưu tiên chạy trước. Xe chúng tôi chở một số anh em nhà văn nhà báo đi thực tế, bám chiến trường, dĩ nhiên ít hy vọng được ưu tiên. Trong khi chờ đợi, tôi nghe giọng Tư Beo kiểm tra giấy tờ:- Đơn vị nào?- Giáo dục.- Lui sau cùng.Một người khác bước tới đưa giấy công lệnh. Tư Beo nheo mắt đọc, nghi ngờ:- Trong giấy ghi chức vụ của đồng chí là phó trưởng ban… phó là phó, trưởng là trưởng. Sao lại vừa phó vừa trưởng? Đề nghị về đơn vị xác minh lại.Đến lượt tôi trình giấy. Tư Beo hỏi:- Đi đâu làm gì?- Báo cáo đồng chí, chúng tôi là cán bộ biên tập…Tư Beo gật đầu, phất cờ đỏ cho qua, miệng nói:- Bộ đội bôn tập (Bôn tập: đuổi đánh địch) cho lên trước để kịp truy kích địch.Nhờ sự hiểu lầm hai chữ “Biên tập” ra chữ “Bôn tập”, xe chúng tôi bất ngờ được hưởng ưu tiên một. Từ đó thủ trưởng Tư Beo còn có biệt danh là ông “Bôn Tập”.Sau ngày giải phóng, địa phương tôi sắp xếp lại cán bộ, người nào việc nấy. Tôi được đề bạt làm tổng biên tập một tờ báo lá cải của địa phương, do đồng chí Tư Beo trực tiếp chỉ đạo. Mỗi lần họp giao ban ông thường dùng đại từ “thằng” để chỉ những thứ thuộc phạm trù đối nghịch: thằng Mỹ, thằng ngụy, thằng tư bản, thằng đế quốc… Cả những cơ quan do ông trực tiếp quản lý ở địa phương, hễ không vừa ý, ông cũng kêu bằng “thằng”: thằng giáo dục, thằng văn hóa, thằng thông tin… Duy chỉ có cơ quan phụ nữ là may mắn không bị kêu bằng “thằng”.Khổ nhất là cái thằng Lá Cải do tôi phụ trách – tôi cũng khổ mà ổng cũng khổ.Hôm tờ Lá Cải số 01 ra mắt, tôi hí hửng đem một xấp tới trình ổng. Sau khi xem xét một hồi, ông đập bàn la:- Bức tranh này vẽ nhà máy sao không có khói bay? Bộ công nhân đình công, nhà máy ngưng hoạt động sản xuất hả? Phải coi lại lý lịch cái thằng họa sĩ nào vẽ…Rồi ông móc túi lấy gói thuốc Điện Biên bao bạc quăng xuống bàn giải thích:- Coi đây nè… Bao thuốc nhỏ xíu thế này mà người ta vẽ nông trường, nhà máy, xe cày, xe kéo… cái gì ra cái nấy, có lửa có khói đầy đủ. Thế mới đúng là khí thế lao động sản xuất chứ.Do vụ này ông chuyển tôi qua làm biên tập viên đài truyền thanh, coi như hạ tầng công tác. Một hôm, sau chương trình phát thanh buổi sáng, ông cho gọi tôi vào bảo:- Này cậu. Cái bài hát vừa rồi lời chưa tốt.- Dạ thưa chú, không phải cháu sáng tác đâu ạ. Đó là bài “Đảng cho ta một mùa xuân” của nhạc sĩ Phạm Tuyên đấy…- Cái thằng… à cái ông nhạc sĩ ấy chưa thấy hết vấn đề. Ai lại nói: Đảng cho ta một mùa xuân… Thế còn ba mùa kia thì sao? Đảng không cho thì ai cho? Không lẽ một năm 12 tháng, chỉ có 3 tháng là có Đảng, còn mấy tháng kia thì không? Thấy phản động chưa?Tôi thở dài gật đầu. Sau đó xin thôi làm đài truyền thanh chuyển qua làm biên tập viên nhà xuất bản. Gặp hồi sách báo ế ẩm, không có việc gì làm, tôi mang mấy tập báo cũ ở nhà đến cơ quan ngồi xem. Trong tờ ĐÔNG THANH TẠP CHÍ xuất bản thời 1930 có đăng tấm ảnh vua Quang Trung cỡi ngựa bạch rất oai phong. Ngựa do vua Càn Long nhà Thanh tặng, ảnh cũng do Thanh triều sai thợ vẽ truyền thần trong dịp vua Quang Trung sang thăm Trung Quốc (tất nhiên đây chỉ là vua Quang Trung giả. Vua Quang Trung thật, tức Nguyễn Huệ vẫn ở nhà.) Bên cạnh bức ảnh, có một bài thơ chữ Nôm dưới ghi rõ tác giả: Hoàng Tùng Am cung đề. Hoàng Tùng Am là tên chữ của ông nội tôi. Bài thơ này lúc nhỏ tôi đã được cha tôi dạy cho học thuộc, nay nhìn lại bút tích cũ, lòng tôi bồi hồi cảm động.Tình cờ hôm ấy, ông Tư Beo ghé vào cơ quan làm việc. Ông ghé mắt nhìn ảnh vua Quang Trung, khen ảnh đẹp rồi hỏi tôi bài thơ chữ Nôm. Tôi liền đọc:Ruổi rong ra Bắc kéo quân quan
    Đánh đuổi quân Tàu chục vạn tan
    Nói tới mấy triều vua nước Việt
    Anh hùng có một chúa Tây Sơn.
    Ông Tư Beo khen:- Nghe được đấy. Thơ của ai vậy?- Dạ, của một nhà nho, làm quan dưới triều vua Thành Thái nhà Nguyễn.Ông Tư Beo bỗng hỏi một câu ra vẻ có kiến thức:- Ủa. Nghe nói mấy thằng vua triều Nguyễn nó rất ghét Tây Sơn mà sao nó cho phép một thằng quan của nó làm thơ ca tụng Nguyễn Huệ là anh hùng số một?Tôi bắt đầu thấy bực mình với ông thủ trưởng này, nhưng mình là phận lính lác, cũng phải lựa lời mà nói:- Cho phép thì chưa chắc. Nhưng dẫu làm thằng vua mà muốn cấm thằng dân suy nghĩ, không phải là dễ. Ngay thời vua chúa cầm quyền, kẻ sĩ vẫn truyền tụng câu nói bất hủ của Mạnh Tử: Dân vi trọng, xã tắc thứ chi, quân vi khinh nghĩa là phải lấy dân làm trọng, thứ đến là đất nước, còn vua thì coi nhẹ.Ông Tư Beo có vẻ không tin và tất nhiên là không hiểu hết ý nghĩa câu nói của Mạnh Tử. Ông lẩm bẩm:- Vô lý! Dưới thời phong kiến mà cái thằng… à, mà Mạnh Tử dám nói câu đó sao không bị chém đầu?Lúc đó trong bụng tôi nghĩ thầm:- Là vì hồi ấy chưa có Tư Beo. Chứ phải Tư Beo làm vua ở nước Lỗ cách đây vài ngàn năm thì nước Tàu đâu có Khổng Mạnh! Nếu Tư Beo làm vua triều Nguyễn thì ông nội tôi cũng không dám làm thơ ca tụng Quang Trung. Còn bây giờ may mà cuộc vận động đổi mới đã có những chuyển biến tích cực chứ phải ai cũng như Tư Beo thì bọn nhà thơ, nhà văn, nhà vẽ, nhà báo… và nói chung là những cái “thằng văn hóa” như chúng tôi còn bị “bôn tập” dài dài, cứ gọi là chạy vắt giò lên cổ.Bụng tôi nghĩ vậy, nhưng không dám nói ra, chỉ mỉm cười trả lời hiền khô:- Dạ, nếu là hôn quân bạo chúa thì sẽ chém đầu. Nhưng nếu là triều đại vua hiền tôi giỏi thì cái gì thằng dân nói đúng cũng phải lắng nghe vậy.

                                                                                                                                            HTP.

                                            HOÀI KÝ

  •                              DƯỚI ÁNH HỎA CHÂU

 Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Phan nguyên là sinh viên tranh đấu ở Huế thoát ly kháng chiến. Từ Miền Trung trôi dạt vào Sài Gòn, về vùng kháng chiến Miền Đông, Miền Tây Nam Bộ, lên R, sang chiến trường Campuchia… Bút ký của ông là những trang viết để hình dung nét đặc trưng của những chiến trường mà tác giả đã đi và sống. Nhận thức được tầm vóc lớn lao và tính chất bi hùng tráng của cuộc kháng chiến chống Mỹ ông tự biết giấu “cái tôi” nhỏ bé của mình trong cái “chúng ta”của người người lớp lớp. Điều mà ông không thể giấu là cách nghĩ, cách nhìn của một người chiến binh giải phóng xuất thân từ phong trào đô thị. Sự tổng hợp vốn sống từ ba vùng đô thị rừng núi và bưng biền trong tập bút ký Dưới ánh hỏa châu đã làm nên những nét phác thảo rất ấn tượng trên tấm địa đồ của những người đi tìm hình nước. Một điều đáng chú ý, tác giả không gọi tập bút ký của mình là hồi ký mà gọi là hoài ký  có lẽ ông muốn gửi gắm vào thời trai trẻ của mình rất nhiều hoài niệm tốt đẹp.

( Lời giới thiệu của Nhà Xuất Bản TRẺ – TP.HCM & Đại Học Duy Tân – Đà Nẵng – 2012.)

 MỘT SỐ BÀI VIẾT TRONG TẬP HOÀI KÝ DƯỚI ÁNH HỎA CHÂU

DƯỚI ÁNH HỎA CHÂU

                                                                 Ra mắt tập bút ký “Dưới ánh hỏa châu” tại TP HCM

Hpnp Dahc

Vào thời kỳ đất nước còn chiến tranh, đêm nào mà chẳng có ánh hỏa châu lập lòe trên bầu trời. Có thứ phát ra ánh sáng trắng như ban ngày, có thứ đỏ như lửa hoặc xanh dìu dịu như ngọc dạ quang. Đẹp ư? Vâng, có thể nói như vậy nếu đừng nghĩ về những gì đang diễn ra trên mặt đất. Tôi đã lớn lên hết cả thời trai trẻ qua hàng nghìn đêm thao thức dưới những vầng sáng lung linh ấy. Và có một đêm không thể nào quên…

Ấy là đêm thứ hai mươi bốn trong hai mươi lăm ngày đêm quân giải phóng chiếm lĩnh và bám trụ thành phố Huế. Bấy giờ chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 đang đi vào giai đoạn kết thúc. Khoảng trưa hôm ấy, đoàn công tác chúng tôi được lệnh tập kết ở khu vực Đại Nội để chờ đến tối sẽ rút ra khỏi thành phố. Các ngôi nhà lớn trong Hoàng thành điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, cung Diên Thọ, Viện Bảo tàng Khải Định… đều chật ních đồng bào lánh nạn. Họ là những người bị thất lạc gia đình hoặc nhà cửa bị bom đạn phá hủy, cứ thấy chỗ nào có vẻ còn yên lành là họ tấp vào trú ẩn. Nhưng không có chỗ nào ở được lâu, chỉ vài quả đạn pháo bắn tới là họ lại bỏ chạy toán loạn, lôi thôi ẵm trẻ dắt già đi tìm nơi khác.

Thực ra không chỉ vài quả pháo mà thường là pháo bầy. Đây là loại hỏa lực đáng sợ từ những dàn trọng pháo đặt trên chiến hạm của quân chư hầu Tân Tây Lan, gọi là pháo cực nhanh. Chúng khai hỏa nhiều khẩu đội cùng lúc như dàn đại hợp xướng, tạo thành một chuỗi tiếng nổ không kịp bưng tai. Mấy hôm trước, một loạt pháo cực nhanh đã rót xuống khu chợ Xép gần cửa Đông Ba, hủy diệt toàn bộ khu dân cư này. Tối hôm đó tôi vào khu chợ đổ nát tìm đường qua cống Lương Y để nắm tình hình. Tôi cảm thấy mặt đất dưới chân mềm nhũng một cánh khác thường. Bỗng một chùm hỏa châu lóe lên, tôi nhận ra mình đang dẫm lên toàn là xác chết, trong số này chắc chắn có không ít người mà trước đây tôi đã từng quen biết. Ớn da gà, tôi quay về, không dám đi tiếp nữa. Lũ chiến hạm Tân Tây Lan đậu tận ngoài cửa biển Thuận An nhưng tìm mục tiêu khá chính xác. Chỗ nào thấp thoáng vài chiếc mũ cối của quân giải phóng là y như rằng trước sau gì pháo bầy cũng dập tới. Rõ ràng phải có tai mắt của địch ở đâu đó chỉ điểm. Trưa hôm ấy trên đường vào Đại Nội, chúng tôi cũng vấp phải một loạt pháo bầy. Sau “bản hợp xướng Tân Tây Lan”, dân chúng hoảng loạn chạy đâu mất cả, chỉ còn lại một người phụ nữ nằm úp mặt bên lề đường như một xác chết. Bên cạnh người bị nạn là một thằng bé chừng bảy tám tuổi, có lẽ là hai mẹ con. Thấy chúng tôi đi qua, nó giương mắt nhìn nửa sợ nửa mừng nhưng không biết nói lời gì để cầu cứu, chỉ khóc lạc giọng. Người phụ nữ này bị một miểng đạn pháo ghim vào đầu, hôn mê nhưng vẫn còn sống. Chúng tôi đặt chị vào một chiếc võng khiêng theo vào Đại Nội. Thằng bé loạng choạng chạy theo mẹ nó.

Trong khu vực Tử Cấm Thành của Đại Nội có một cái hầm tránh bom hình chữ A được xây bằng bê-tông khá kiên cố. Nghe nói hầm này do người Nhật xây từ hồi đại chiến thế giới lần thứ II để tránh bom của phe đồng minh. Chúng tôi để người đàn bà bị thương trong hầm chữ A và dặn đứa bé ngồi bên cạnh để chăm sóc mẹ nó. Đối với vết thương sọ não của chị ta, tổ cứu thương của chúng tôi, do chị Mai phụ trách, chỉ có thể làm vài việc sơ cấp cứu rồi sống chết… nhờ trời!

Khoảng xế chiều, thằng bé đang ngồi trong hầm bỗng chạy bổ nhào ra ngoài kêu:

–  Ba! Ba! Mạ ở trong ni!

Thì ra trên đường có một đoàn người đi tới, đó là một số tù nhân do bộ

đội áp giải. Ba của thằng bé – khổ thay, lại ở trong đám tù nhân. Y bị bộ đội chiến đấu trên thượng thành bắt được quả tang đang sử dụng máy truyền tin – loại máy mà CIA trang bị cho các cộng tác viên mật để thâu thập tin tức. Loạt pháo bầy đã làm sát thương vợ y trưa nay rất có thể do y gọi đến. Y bị trói hai tay sau lưng và dắt đi, rất vội vã nên chỉ ngoái đầu nhìn lại đứa con một cách thê thảm mà không nói gì cả. Thằng bé chạy theo cha một đoạn, đến chỗ cửa thành thì bị giữ lại, đành lủi thủi quay về. Nó hỏi chị Mai:

– Răng họ bắt ba cháu đi mô rứa? Rồi ba có được tha về không?

Chị Mai ôm nó vào lòng, thở dài không trả lời.

Đoàn chúng tôi mãi đến quá nửa đêm mới được lệnh rút quân. Chị

Mai lo liệu cho thằng bé khá chu đáo. Chị để lại cho nó một hộp sữa, một nồi cháo và một cây đèn dầu. Chị luôn miệng an ủi, động viên, dặn nó phải ở lại với mẹ, đừng chạy ra khỏi hầm. Lúc đầu thằng bé có vẻ an tâm, nhưng khi đoàn chúng tôi ra đi được một đoạn, bỗng có tiếng kêu hoảng hốt:

– Cho cháu theo với.

Chính là tiếng thằng bé. Nó cong lưng chạy theo chúng tôi. Vấp té, rồi lại dậy, lật đật đuổi theo. Chị Mai đành phải dừng lại, xoa đầu nó giải thích:

– Các cô chú đi đánh giặc, làm sao đem cháu theo được. Rồi mẹ cháu dậy ai cho mẹ cháu ăn?

Thằng bé trả lời một cách rất tỉnh táo và rất tuyệt vọng:

– Chắc mạ cháu không thức dậy nữa mô. Ở trong hầm, cháu sợ ma quá. Đừng bỏ cháu một mình tội nghiệp cô ơi!

– Đừng sợ! Chung quanh cháu còn có nhiều người, đến sáng họ sẽ tới giúp cháu. Cô phải đi gấp đây.

Thế mà một lúc sau vẫn thấy thằng bé lẽo đẽo theo sau, lại còn kêu réo om sòm mới thật là nguy hiểm. Bí quá, chị Mai đành phải quay mũi súng AK chỉa lên trời và dọa:

– Im miệng, trở về hầm đi không tao bắn.

Thằng bé nín thinh, khựng lại.Thì ra nó cũng biết sợ súng. Chị Mai tạm cho là giải quyết được vấn đề,quay lưng bước nhanh như chạy trốn. Lại một chùm hỏa châu lóe sáng trên bầu trời, khuôn mặt chị Mai nhập nhòa hai dòng lệ. Dưới ánh hỏa châu, thằng bé đứng im như một pho tượng. Cái bóng của nó đỗ dài ra một vệt đen thẫm, ngó như máu trong người nó chảy ra vậy. Nó đã lâm vào bước đường cùng, tới lui gì cũng không được. Không biết nó đứng như thế đến bao lâu và điều gì sẽ xảy ra với nó.

Hơn ba mươi năm qua, ánh hỏa châu của những đêm chiến tranh đã tắt nhưng cái bóng bất động của thằng bé vẫn in sâu vào ký ức của tôi một vùng đen thẫm. Có lúc tôi nuôi chút hy vọng rằng sáng hôm sau, thằng bé sẽ được cứu và chắc bây giờ nó đang sống ở đâu đó. Nhưng có lần xem bộ phim tài liệu Việt Nam thiên sử truyền hình của Mỹ đến đoạn lính Mỹ tái chiếm Đại Nội vào ngày thứ 25, tôi thấy toàn là lửa. Lửa trùm lên Hoàng thành, tràn ngập cả màn ảnh truyền hình. Trong cơn binh lửa ấy, liệu hai mẹ con họ có sống sót được không hay là đã bị cháy thành than và chôn sấp dập ngữa cùng với những tử thi mà bộ máy tuyên truyền của địch rêu rao một cách hồ đồ là “nạn nhân của Việt cộng”?

Công tâm hơn một chút thì có thể gọi số phận thằng bé một cái tên chung là nạn nhân chiến tranh. Nhưng chiến tranh không phải từ trên trời rơi xuống mà có uyên nguyên của nó. Oan có đầu, nợ có chủ. Sau Việt Nam, đến lượt Kosovo, Afghanistan, Iraq, Trung Đông… ở đâu tôi cũng bắt gặp rất nhiều hình ảnh những đứa bé lâm vào hoàn cảnh bi đát như vậy.

Tạm quên đi mối hận thù dân tộc trong quá khứ thì trước mắt vẫn còn những điều cần phải lên tiếng cảnh báo về mối thảm họa của quyền con người và quyền trẻ em ở các nước nhược tiểu trên hành tinh này. Vì vậy, tôi muốn gọi tên số phận của những đứa bé đó một cách trung thực: đó là những nạn nhân chiến tranh của Mỹ.

  • ĐƯỜNG LÊN ĐỈNH NÚI

Hồi học cấp II, tôi được một số bạn bè và huynh trưởng giới thiệu gia nhập tổ chức Hướng Đạo Sinh.Lúc bấy giờ có thể nói đây là môi trường tốt nhất để rèn luyện, giáo dục lối sống của thanh thiếu niên thành phố, chẳng nhũng ở Việt Nam mà còn ở rất nhiều nước khác. Tôi đã học các kỹ năng lều trại, thắt nút, thông tin, cấp cứu thoát hiểm… Vượt qua được chương trình thí sinh, tuyên lời hứa rồi tiếp tục chương trình hướng đạo hạng nhì, hạng nhất. Những thành tích nói trên nói trên đã tạo cho tôi ảo tưởng rằng mình đã trở nên người tháo vát, có đủ bản lĩnh đối phó với những hoàn cảnh khó khăn. Vào đại học, chúng tôi tự lập thành một toán hướng đạo sinh viên. Lúc đầu được các cấp trưởng trong ngành chú ý hoan nghênh. Nhưng vào mùa hè 63, các trường Đại học ở Huế nổ bùng phong trào đấu tranh chống chế độ Diệm. Với danh nghĩa toán hướng đạo sinh viên, chúng tôi cũng tích cực tham gia xuống đường, bãi khóa, tuyên ngôn, tuyệt thực… Sau đó, thật bất ngờ là toán hướng đạo của chúng tôi bị các cấp trưởng trong ngành thi hành kỷ luật, khai trừ ra khỏi Hội hướng đạo vì đã có chỉ thị cấm các hướng đạo sinh hoạt động chính trị. Tôi bèn nhớ lại cái đêm thiêng liêng nhất trong cuộc đời hướng đạo của mình – cái đêm mà tôi được đưa ba ngón tay lên trước ngọn lửa bập bùng mà tuyên hứa. Lời hứa đầu tiên là Trung thành với Tổ quốcTrung thành với Tổ quốc mà không được hoạt động chính trị, thì hóa ra hai chữ Tổ quốc ở đây, chỉ là thứ chữ mật mã dùng trong các trò chơi lớn thôi sao? Nhân đấy tôi còn nghiệm ra mấy điều không ổn khác. Đó là về lý lịch của Huân tước Baden Powell, người sáng lập ra phong trào hướng đạo, mà chúng tôi gọi một cách thành kính là cụ BiPi. Tiểu sử của cụ được ghi rõ trong trong tự điển Larousse thế kỷ 20: Sir Robert Stephenson Smyth Baden Powell, gia nhập lính khinh kỵ của hoàng gia Anh từ năm 19 tuổi và phục vụ liên tục trong quân ngũ cho đến khi về già được phong Trung tướng. Ông đã lập nhiều chiến công xuất sắc ở các thuộc địa Ấn Độ và Nam Phi”. Cần nói thêm một lần, đội quân Anh do cụ BiPi chỉ huy bị vây khốn trong thành Ma-phê-king ở Ấn Độ. Không hiểu cụ BiPi khéo dụ dỗ sao đó mà tập hợp và huấn luyện một băng thiếu nhi ở địa phương. Bọn này làm giao thông, liên lạc, tiếp tế và dẫn đường cho viện binh Anh đến giải vây được cho cụ. Đây là những hướng đạo sinh đầu tiên do cụ BiPi đào tạo. Những trẻ em Ấn Độ cam tâm làm tay sai cho giặc này, chắc được miễn cái vụ tuyên lời hứa “trung thành với Tổ quốc”. Hướng đạo sinh còn có tục lệ cài hoa đỏ vào ngực để tưởng niệm… thánh George, một hiệp sĩ trong cổ tích phương Tây, đã diệt một con rồng ác để cứu nàng công chúa. Xét cho cùng thì từ cụ BiPi (thực dân chuyên nghiệp cỡ bự) cho đến thánh George của cụ, đều chẳng ăn nhập gì đến tổ quốc  Việt Nam này. Về phần tôi, từ khi nghiệm ra những điều không ổn nói trên thì đối với tôi câu châm ngôn Hướng đạo một ngày, Hướng đạo mãi mãi không còn giá trị định hướng như chiếc kim chỉ Nam nữa.

Cũng trong lứa tuổi hai mươi, có lúc tôi muốn trở thành con chiên của Chúa. Lạy Chúa. Tôi chỉ là người ngoại đạo, không tin có chúa ở trên trời. Nhưng mỗi mùa Giáng sinh được nghe khúc nhạc Jingle Bells và những câu tình ca dịu ngọt kiểu “Giáo đường im bóng”:

“… Dáng xinh xinh bao tiên kiều.
Quì dâng thánh kinh ban chiều.
Trong giáo đường đêm Noen ấy.
Ngàn đời tôi mến yêu…

hay kiểu “Hận Tha La”:

Trong đám chiên hiền thương áo trắng

Nghe trời trở gió nhớ quanh quanh…”

– tôi bỗng thấy lòng xôn xao những cảm giác lạ. Rồi một cô bạn trong đội Binh xanh của Đức mẹ đã khuyến khích tôi: “Hãy thử tìm hiểu và sống đạo, biết đâu anh sẽ đến được với Chúa”.  Tôi bèn tìm đọc kinh Cựu Ước, Tân Ước, theo bạn bè đi xem lễ thuộc được vài bài kinh cầu nguyện. Có lần vì tò mò, tôi cả gan trà trộn vào đám con chiên thực thụ, quỳ ở hàng ghế đầu chịu lễ mình thánh. Khi chiếc bánh thánh dính chặt vào đầu lưỡi tôi bối rối chưa biết nên nhai hay nuốt thời may, bánh đã tiêu tan đi rất nhanh chóng. Đến với Chúa theo cách của tôi thật là không nên không phải, nhưng thật tình trong đó cũng có tấc lòng mến đạo. Có thể tôi sẽ đi xa hơn nữa để trở thành một tín hữu Ki-tô giáo nếu không xảy ra vụ những người Thiên chúa trong bộ máy chính quyền Diệm tàn sát dã man những thiếu nhi Phật tử ở đài Phát thanh Huế vào mùa Phật đản năm 1963. Tình cờ được chứng kiến tận mắt cuộc tàn sát này, tôi đã tự nguyện đứng vào hàng ngũ Phật giáo để chống lại những cuộc đàn áp của Ngô triều. Trong giai đoạn ấy, tôi cảm thấy vinh dự được làm Phật tử. Chỉ có một điều trước sau vẫn không thể nhất trí được với các Thầy. Đó là đường lối đấu tranh bất bạo động, được đề cao thành đạo lý, ít nhiều đã đi vào phong trào tranh đấu như một thứ ngụy tín. Ở chùa thường phải niệm Phật. Trong hơn 100 danh hiệu các vị Phật, lúc ấy tôi chỉ tâm đắc có một câu “Nam Mô Đấu Chiến Thắng Phật”. Tuy kiến thức về giáo lý rất lem nhem, tôi cũng biết rằng “Đấu Chiến Thắng Phật” là danh hiệu của Tôn Ngộ Không. Đọc Tây Du, ai cũng biết, Ngộ Không rất bất mãn trước chủ trương bất bạo động của Đường Tăng. Trong vô lượng pháp môn của nhà Phật, Ngộ Không đã chọn cây Như Ý bỗng để mở đường đi đến Niết Bàn và đã thành chính quả.

Vì vậy, khi máy bay B52 của giặc Mỹ rải thảm trên núi rừng làng mạc, và khi xe tăng súng đạn của của bọn Thiệu Kỳ đã thẳng tay đàn áp đồng bào ở đô thị… tôi đâu có đủ định lực để đọc bài Trầm hương đốthay Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện. Khi ấy những ai không chịu đầu hàng hoặc chấp nhận thất bại một cách dễ dàng, chỉ còn một con đường là chiến đấu với cây súng và lá cờ đỏ trên tay. Tôi đã chọn con đường đó.

Thế là một hôm tôi bí mật thoát ly ra vùng căn cứ. Cô giao liên đưa tôi đến một hang đá trên ngọn núi Kim Phụng, ở phía tây thành phố Huế. Mùa hè xứ Huế, trời nước trong xanh dòng sông trôi bóng phượng hồng rực rỡ. Nhưng trên đỉnh núi này, sớm chiều vẫn chập chùng mây giăng sương phủ. Núi có vẻ đẹp hùng tráng, cô đơn và bí ẩn. Hồi tôi còn hoạt động hướng đạo, đã có lần vào cắm trại ở gần chân núi Kim Phụng. Ban đêm chúng tôi đốt lửa, gậy hướng đạo bịt sắt hướng mũi nhọn ra bốn phía để đề phòng thú dữ. Tuy chưa đến chân núi, cũng lấy làm tự hào là một thành tích mạo hiểm. Thế mà giờ đây cô giao liên dẩn tôi đi với những bước chân nhẹ nhàng thoăn thoắt, coi như chuyện nhỏ thường ngày.

Điều làm cho tôi rất ngạc nhiên và thích thú là đồng chí cán bộ cách mạng đón tiếp tôi chẳng ai xa lạ. Đó là anh T- trước đây cũng là một huynh trưởng hướng đạo. Chính anh đã chỉ đường cho chúng tôi vào cắm trại ở núi Kim Phụng. Anh là một tráng sinh lên đường, có tên rừng là “Beo kiên nhẫn”.

Anh T có một bộ sưu tầm các dấu chân thú rừng, đúc bằng thạch cao hoặc sáp đèn cầy, gồm các lọai voi, cọp, hươu, heo rừng, khỉ, sóc… Ai đến xem bộ sưu tầm này thì anh giải thích “Trong một năm trời, tuần nào mình cũng theo chân những người làm than, củi lặn lội vào rừng mới lấy được dấu chân của bấy nhiêu loài thú”. Cho đến hôm nay, T mới nói cho tôi biết rằng đi sưu tầm dấu chân thú chỉ là cái cớ để vào rừng mà không bị nghi ngờ. Mục đích chính của anh là sưu tầm dấu chân của những người cách mạng – tức “ Việt Cộng” – để bắt liên lạc với tổ chức.

Rồi làm sao mà bắt được liên lạc?

Cậu biết không? Hễ phát hiện được một con đường mòn nào trong rừng là mình xếp ngay giữa đường một đống củi, chỗ nào có dấu hiệu đống củi bị thay đổi chứng tỏ có người đi qua, thì mình ngồi rình trong bụi hết ngày này qua ngày khác. Quả nhiên cuối cùng đã gặp được các đồng chí.

Nghe anh kể, tôi chợt rùng mình vừa xót xa vừa thán phục. Tôi buộc miệng khen:

– Đúng là Beo Kiên Nhẫn.

Anh T. kết luận bằng một giọng cảm khái: Cậu thấy không? Vào hướng đạo, tụi mình chỉ đến được chân núi là cùng. Phải vào cách mạng mới lên đến được đỉnh núi này.

Hai chữ “đỉnh núi” làm tôi liên tưởng đến một câu mở đầu cuốn tiểu thuyết “Núi tuyết Kilimandjaro” của nhà văn Mỹ Hemingway:

“Trên đỉnh núi Kilimandjaro, núi cao nhất của châu Phi- người ta tìm thấy xác của một con beo nằm chết vùi dưới băng tuyết. Không ai hiểu con beo kia làm gì mà leo cao đến độ đó để rồi chết như vậy”

Trong tác phẩm này, Hemingway mô tả một cuộc sống rất phong phú và sôi nổi của một nhà văn trẻ. Bị hấp dẫn bởi huyền thoại con beo chết trên núi tuyết, chàng qua châu Phi lặn lội tìm đến ngọn núi trên, nhưng không lên được đến đỉnh. Trong cơn thất bại rã rời, chàng nghiệm ra rằng mình đã uổng phí rất nhiều thì giờ đuổi theo những ảo ảnh.

Tuổi hai mươi của tôi, cũng đã để uổng phí rất nhiều thì giờ, tìm tòi, thử nghiệm để xác định cho mình một con đường. Nhưng khác với con beo mù quáng và cô đơn của Hemingway, những con Beo kiên nhẫn của cách mạng biết rõ con đường mình đi và cái đích mình phải tới. Khác với anh chàng nhà văn người hùng mệt mỏi trong tiểu thuyết của Heminway. chúng tôi đã đi, đã đến và tin rằng  sẽ thắng.

Các bạn trẻ xứ Huế thân mến! Chắc các bạn không ai lạ gì hòn núi Kim Phụng hay còn gọi núi Thiên Thọ. Đứng dưới Huế nhìn lên trên ấy quanh năm chỉ thấy mây che sương phủ. Nhưng các bạn biết không – ở trên này có một cái hang đầy rêu phong và thạch nhũ nhưng cũng rất nhiều ánh sáng. Chính nguồn sáng ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn và dẩn dắt bước chân tôi qua những tháng năm dài trên đường chiến đấu.

HAI ĐÓA HOA QUỲNH

    Mùa khai giảng năm ấy, tôi vào học trường Quốc Học Huế. Tôi được xếp ngồi ở đầu dãy bàn thứ hai, gần cửa ra vào. Bọn con trai, những đứa ít thuộc bài, hay nói chuyện, quậy phá, ngủ gục hoặc những anh chàng to lớn dềnh dàng, bị học “đúp” (lưu ban)… thường không dám ngồi phía trước vì sợ các thầy “chiếu tướng”. Họ thường tự động tìm nhũng chỗ ngồi kín đáo, hình thành một “xóm nhà lá” ở mấy dãy bàn sát vách tường phía sau cùng. Đặc biệt, những dãy bàn đầu bao giờ cũng ưu tiên cho nữ sinh. Lớp tôi có tám bạn gái, tôi đều phải gọi bằng chị. Nguyên tôi vừa nhỏ tuổi, vừa nhỏ con nên bị coi như còn con nít. Còn các cô coi vậy chứ người nào cũng có thể gả chồng được rồi.

Ngồi ở bàn trước mặt tôi là hai đóa hoa bậc chị, cả hai điều có tên là Quỳnh. Một chị tên Nguyễn Thị Quỳnh, bọn con trai ở xóm nhà lá gọi là Quỳnh ngắn, vì cái tên ngắn ngủn một cách bình dân. Ngồi kế bên Quỳnh ngắn  là Công Tằng Tôn Nữ Bội Quỳnh cái tên sáu chữ rất lục bát, rất quí tộc và rất Huế như thế mà bọn xóm nhà lá cũng chỉ gọi vắn tắt là Quỳnh dài. Quỳnh ngắn có một cái răng cửa bị mẻ mất một miếng lớn, như cánh cửa sổ bị khuyết mất lá sách, nên còn gọi là Quỳnh hở. Quỳnh hở ít khi cười mà mỗi lần lỡ cười, chị thường ý tứ, xòe bàn tay che miệng. Còn nữa. Trong hai con mắt của chị, hình như chỉ có một con là nhìn được. Con kia, con mắt trái cùng bên với cái răng sứt chỉ là con mắt giả, trơ như hòn bi ve và xanh xanh như mắt mèo. Vì vậy, chị có tên là Quỳnh mắt mèo.. Tóm lại, Nguyễn Thị Quỳnh, tức Quỳnh ngắn, Quỳnh hở, Quỳnh mắt mèo có thể gọi bằng cái tên tổng hợp là Quỳnh xấu.

Ngược lại, Công Tằng Tôn Nữ Bội Quỳnh hoàn toàn có đủ tiêu chuẩn để thi sắc đẹp, làm mẫu vẽ tranh, chụp hình lên lịch, lên bìa báo tết… Vì chị ngồi trước mặt tôi suốt cả niên học cho đến nay, dẫu đã mấy chục năm không gặp lại nhưng tôi có thể mô tả nhan sắc của chị một cách tỉ mỉ và đầy cảm hứng nghệ thuật. Nhưng xét ra điều đó không cần thiết trong câu chuyện hôm nay, nên cũng chỉ xin gọi Quỳnh dài bằng cái tên tổng hợp là Quỳnh đẹp.

Thói thường ai cũng thích cái đẹp chứ mấy ai thích cái xấu. Tôi cũng vậy lúc đầu, tôi cũng có xu hướng thiên ái Quỳnh đẹp và coi thường Quỳnh xấu. Chị Quỳnh xấu ơi! Không biết bây giờ chị ở đâu. Nếu như lúc này mà chị còn sống ở đâu đó và đọc đến đây, xin chị đừng buồn tôi nhé. Không biết chị sẽ nở một nụ cười rộng lượng hay là sẽ nhỏ một giọt nước mắt – giọt nước mắt lẻ loi của con mắt bên phải, như hình ảnh sau cùng mà chị để lại trong tâm tưởng của bạn bè.

Tôi cũng không thể không nói đến một điều khác biệt quan trọng giữa hai Quỳnh khiến cho dù họ ngồi gần nhau trong gang tấc mà vẫn nghìn trùng cách biệt. Đó là sự khác biệt giàu nghèo. Quỳnh dài là con một thương gia giàu có; thế lực nhất nhì trong thành phố. Chị đi học bằng xe hơi, hằng ngày có tài xế đưa rước, khi nào bước vào lớp cũng thơm tho và sạch sẽ như một đồng xu mới. Quỳnh ngắn thì nghèo, nhà ở tận bến đò Than, một địa danh gần dưới chân núi Kim Phụng. Hằng ngày, Quỳnh ngắn đạp chiếc xe cọc cạch đi về từ phía ngọn núi xanh xanh ấy. Buổi trưa chị ở lại trong trường. Mùa đông xứ Huế, trời mưa tầm tã và rét buốt tận xương. Không hiểu Quỳnh ngắn đi đứng cách nào mà đến lớp vẫn đúng giờ, có điều chị thường bị ướt đến cả nửa người, ngồi học phải co ro khép nép cố giấu hai ống quần ướt sũng dưới gầm bàn.

Có một lần vào đầu giờ Quốc Văn (bây giờ gọi là môn Văn), Quỳnh ngắn mở cặp lấy sách vở, vô ý thế nào để trong cặp lăn ra mấy củ khoai lang. Tôi thấy chị kín đáo nhìn theo mấy củ khoai lang bối rối nhưng không dám lượm. Một củ lăn vào bàn chân tôi, nghe ấm ấm. Tôi hiểu rằng những củ khoai này là bữa ăn trưa của chị nhưng tôi không dám nhặt lên đưa lại, sợ chị mắc cỡ. Củ khoai lăn xuống chỗ xóm nhà lá thì bị đưa ngược lên như trái banh, gây thành một vụ lộn xộn. Lúc ấy nhầm giờ Quốc Văn do thầy M. phụ trách. Con người  này đúng ra không nên làm nghề giáo. Không hiểu sao lại đi dạy mà lại dạy môn Văn. Dạy truyện Kiều có câu: “Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa – ông giảng: “Vào trong phong nhã nghĩa là khi vào trong nhà thì nó rất phong nhã. Còn ra ngoài hào hoa là khi ra đường thì nó cũng rất hào hoa”. Bài Ngày khai trường của Thanh Tịnh có câu : Hằng năm cứ vào cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc… Ông giảng: “ Bàng bạc là nó… nó bàng bạc-nghĩa là nó cứ bàng bạc bàng bạc…”. Dạy dỗ vớ vẩn như thế nhưng đối với học trò thì rất hắc búa. Bữa đó, thấy củ khoai lăn ra, ông quay lại quắc mắt quát;

– Người nào mang khoai vào lớp ?

Cả lớp im thin thít. Tôi thấy Quỳnh ngắn đỏ mặt cúi gầm xuống. Chị nhấp nhỏm tính đứng lên rồi lại ngồi yên. Thầy M. quát đến tiếng thứ ba thì tôi nổi máu nghĩa nghiệp đưa tay lên mạnh dạn đáp:

–  Thưa thầy, đó là khoai của em.

Ông M. ném vào tôi một cái nhìn gay gắt nhưng không nói tiếng nào mà bước đến bàn, mở sổ điểm ghi cho tôi hai con số 0 gọn ơ. Đến lúc này, bỗng chị Quỳnh ngắn đứng bật dậy như cái lò xo. Chị dõng dạc nói:

– Thưa thầy, đó là khoai của em mang theo để ăn trưa, vô ý bị rớt ra. Vậy thầy cứ cho em điểm “0”- đừng phạt trò ấy.

Nói xong, chị thản nhiên bước ra khỏi chỗ ngồi , ung dung cúi nhặt củ khoai mang về bỏ vào cặp.

Thầy M càng nổi cáu:

–  Vậy sao nãy giờ không chịu nhận, làm mất thì giờ.

Ông lại hùng hục mở sổ ghi cho chị Quỳnh hai con số “0” mà vẫn không xóa điểm phạt của tôi. Trong bụng tôi tức lắm nhưng bề ngoài tôi vẫn giữ bộ mặt lãnh lẽo, làm như chẳng mấy quan tâm đến cái điểm quỉ quái của ông ta. Câu chuyện tới tai thầy Kiêm, giáo sư hướng dẫn (bây giờ gọi là giáo viên chủ nhiệm) của lớp.

Thầy Kiêm người Nam bộ dạy môn Pháp văn, nguyên là hiệu trưởng một trường trung học ở Sài Gòn. Nghe nói mấy năm trước, ông tham gia phong trào Trần Văn Ơn, bị chính quyền thuyên chuyển ra Huế dạy học và chỉ định cư trú luôn tại thành phố này. Thầy là nhà giáo dạy giỏi, tận tụy, yêu nghề và thương yêu học trò như cha con. Thầy không bao giờ hò hét mà lớp học khi nào cũng vui vẻ ấm áp. Mỗi năm học, thầy sắm một quyển sổ lưu niệm. Mỗi học sinh điều được yêu cầu tặng cho thầy một tấm ảnh căn cước để dán vào sổ bên cạnh những trang viết gọi là lưu bút kỷ niệm trước khi nghỉ hè. Đó là người thầy đáng kính mến nhất trong đời học sinh của tôi.

Hôm ấy, vào giờ ra chơi, thầy Kiêm gọi tôi và chị Quỳnh ngắn đến hỏi đầu đuôi câu chuyện củ khoai. Nghe xong, thầy an ủi :

-Các trò không có lỗi gì cả. Nếu cần, tôi sẽ xin thầy  M xóa điểm “0” cho các trò. Nhưng cả tôi và chị Quỳnh đều lắc đầu :

– Thưa thầy, không cần đâu. Xin thầy đừng nhọc lòng vì chúng em.

Thầy mỉm cười gật đầu :

– Tốt. Nhưng mà…Thầy nhìn chăm chăm vào mặt chị Quỳnh, hạ giọng nói nhỏ – Hãy cẩn thận, thầy M. là một con người nguy hiểm. Tôi nói nguy hiểm. Hiểu không?

Tôi gật đầu nhưng không hiểu gì cả. Chị Quỳnh cũng khe khẽ gật đầu và hơi nhíu mày. Hình như chị có hiểu.

Độ một tháng sau ngày khai giảng, là lễ Quốc Khánh của chế độ Ngô Đình Diệm, nhăm ngày 26 tháng 10. Lúc này lực lượng võ trang của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam hoạt động mạnh ở nông thôn và vùng núi.Lực lượng cố vấn Mỹ và lính Mỹ bên cạnh quân đội Sài Gòn đã lên đến con số đáng kể. Họ ráo riết xây dựng một dãy tiền đồn tình báo chiến lược ở vùng núi A Sầu – A Lưới thuộc biên giới phía Tây tỉnh Thừa Thiên.

Một buổi sáng, thầy M. vào lớp phổ biến :

– Theo chỉ thị của Nha Học Chánh nhân dịp lễ Quốc Khánh mỗi trường phải cử vài nữ sinh tham gia phái đoàn đại diện đồng bào thành phố đi ủy lạo và quàng vòng hoa cho quân đội Cộng Hòa và đồng minh Hoa Kỳ tại tiền đồn biên giới. Tôi chịu trách nhiệm cầm đầu phái đoàn. Riêng tại lớp này, tôi sẽ chọn cô Quỳnh đi theo phái đoàn để quàng vòng hoa.

Chị Quỳnh ngắn bỗng giật mình. Chị đứng dậy phản đối với giọng gay gắt :

– Thưa thầy Quỳnh nào ạ? Nếu là tôi thì… tôi không thể làm việc đó. Tôi đến đây để đi học chứ không phải đi quàng vòng hoa cho lính Mỹ.

Thầy M. ném một cái nhìn khinh bỉ, gằn giọng;

– Biết rồi! Nhưng không ai thèm nhờ tới cô. Cái bộ mặt Chung Vô Diệm của cô mà đi quàng vòng hoa thì không cần Việt Cộng đánh, người Mỹ cũng phát hoảng, đạp nhau mà chạy.

Lác đác ở dưới xóm nhà lá bật lên vài tiếng cười vô ý thức, nhưng rồi họ kìm lại được. Giữa bầu không khí nặng nề đó, thầy M lại tiếp tục:

– Hồi nãy tôi nói cô Quỳnh, tức nhiên là Bội Quỳnh ấy. Cô hãy chuẩn bị, có lệnh là đi.

Nguyên chị Bội Quỳnh đã xinh đẹp lại rất hoạt bát, tự tin. Chị là ngôi sao của sân khấu học đường. Mỗi năm đến ngày lễ Phụ Nữ, chị thường hóa trang đóng vai Bà Trưng, ngồi trên mình voi diễn hành qua lễ đài để quay phim, chụp ảnh. Đối với những công việc cần đến thế mạnh duyên dáng của chị, Bội Quỳnh thường vui vẻ nhận lời. Lần này thầy M. chọn Bội Quỳnh đi quàng vòng hoa là đúng người rồi. Quỳnh đẹp mỉm cười kiêu hãnh liếc sang Quỳnh xấu, lúc ấy đang cúi gầm mặt xuống. Đối với Quỳnh xấu, những lời mạt sát vừa rồi của thầy M. còn đau hơn những cái tát. Từ con mắt bên phải của Quỳnh xấu, một giọt nước mắt ứa ra lăn dài xuống gò má. Con mắt bên kia đúng là mắt giả. Nó không chảy nước mắt được. Nhìn thấy giọt nước mắt này, nụ cười kiêu hãnh của Quỳnh đẹp vụt tắt. Bàn tay của Quỳnh đẹp kín đáo tìm đến bàn tay của Quỳnh xấu ở dưới hộc bàn siết chặt. Cử chỉ ấy ngọt ngào như những lời an ủi. Lần đầu tiên tôi thấy hai đóa hoa Quỳnh này thật thân mật và dễ thương đến thế.

Thầy M. lại tiếp tục phổ biến ;

–  Vòng hoa thì nhà trường sẽ chuẩn bị. Bội Quỳnh chỉ cần đến đúng giờ, sáng đi chiều về bằng máy bay trực thăng. Nhớ mặc áo dài trắng.

Bỗng Quỳnh đẹp đứng lên lạnh lùng trả lời :

– Thưa thầy, cả em cũng vậy, em cũng thể làm việc đó.

Thầy M. ngạc nhiên hỏi lai :

– Vì sao?

Quỳnh đẹp ngồi im không trả lời. Tuy vậy, thầy M. không hề nổi giận với cô học trò này, chỉ nhẹ nhàng đưa ra lời khuyến cáo :

–                     Cô đã nghĩ kĩ chưa? Nên nhớ nếu tôi báo cáo thái độ của cô với bên an ninh thì sẽ có chuyện phiền phức đấy.

Quỳnh đẹp trả lời lễ phép nhưng rất rõ ràng :

–  Xin thầy vui lòng tìm người khác, cho phép em được vắng mặt hôm ấy.

Thầy M. bối rối quay sang dãy bàn nữ sinh bên cạnh cầu cứu :

–                     Ai tình nguyện đi thay Bội Quỳnh?

Cả sáu cô bạn còn lại điều im lặng.Kể ra trong sáu cô này cô nào cũng khá duyên dáng,tuy không bằng Bội Quỳnh nhưng đều có nhan sắc trên trung bình. .Bình thường có lẽ các cô cũng vui vẻ nhận lời đi quàng vòng hoa nhưng không khí nặng nề hôm ấy khiến ai cũng mất cảm hứng.Thầy M chỉ vào ai thì người đó liền lắc đầu.

Ma xui quỉ khiến sao, lúc ấy từ cổ họng của tôi phát ra mấy tiếng cười khành khạch đầy vẻ thích thú, khiến cả lớp cười theo cái rần.

Tức thì, thầy M. lồng lộn lên, đập bàn rầm rầm quát :

– Cười cái gì? Các người cười ai?

Ông ta đập bàn mạnh quá, không hiểu vô tình hay cố ý, cái cặp táp của ông văng xuống đất vang lên tiếng kêu loảng xoảng. Từ trong cặp văng ra một cây súng ngắn. Cả lớp ngạc nhiên và hoảng sợ ngơ ngác nhìn nhau. Tôi chợt hiểu câu nói hôm nọ của thầy  Kiêm : “Hãy cẩn thận. Thầy M. là một con người nguy hiểm”. Té ra ông M là một tên lính kín.Khẩu súng ngắn văng tới dưới chân tôi cũng như củ khoai lăn tới hôm trước. Tôi đưa chân hất nhẹ nó ra ngoài một chút để ông tự đến mà nhặt lên. Thú thật, tôi cũng rất sợ thầy M. và sợ cả cây súng lục này. Nhưng tôi khinh bỉ ông ta nhiều hơn.

Một tuần lễ sau, cũng vào giờ Văn của thầy M. chúng tôi đang ngồi học thì có giấy mời chị Quỳnh xấu xuống văn phòng. Chị đứng dậy toan bước ra khỏi lớp thì thầy M. bảo:

–  Khoan đã. Sách vở dụng cụ có gì mang theo hết luôn. Đi lâu đấy.

Rõ ràng thầy M. đã biết trước việc này. Chị Quỳnh xấu không phải vào văn phòng. Một chiếc xe bít bùng của cảnh sát đã đậu sẵn bên thềm. Sau này, tôi được thầy Kiêm cho biết thêm :

–  Cô Quỳnh này (Quỳnh xấu) trước đây đã một lần ở tù vì hoạt động cách mạng trong thời chống Pháp. Con mắt bị hư và chiếc răng bị mẻ của cô là hậu quả của những trận đòn tra tấn trong tù. Nếu không bị nhà tù tàn phá nhan sắc thì Quỳnh xấu là một cô gái hoàn hảo, đẹp nết đẹp người, dễ đã mấy ai sánh kip.

Khi biết được điều đó, tự nhiên tôi nảy sinh lòng kính trọng và thương cảm Quỳnh xấu vô cùng. Nhưng muộn rồi. Quỳnh xấu không bao giờ trở lại dưới mái trường. Hôm ấy là buổi học cuối cùng của chị. Đôi khi trong giờ học tôi lơ đãng nhìn qua khung cửa sổ, nhìn ngọn núi Kim Phụng ở phía bến đò Than hiện ra một màu xanh thăm thẳm, tưởng thấy bóng dáng Quỳnh xấu lẽo đẽo đi về một mình trên đường mưa gió. Cho đến nay, đã mấy chục năm xuôi ngược đường đất đường đời, tôi chưa hề có dịp gặp lại Quỳnh xấu. Còn Quỳnh đẹp? Đã đẹp lại giàu có, thế lực- thầy M. không dám đụng đến một cái móng tay móng chân của chị. Chị thi đỗ tú tài, lấy chồng bác sĩ rồi an phận sống trong tháp ngà. Tuy nhiên mỗi lần gặp lại bạn cũ, khi nào chị cũng mừng rỡ hồn nhiên như hồi còn đi học.  Thầy M. với tính cách lính kín, không thể ở lâu trong ngành giáo dục. Mấy năm sau, thầy được bổ nhiệm làm chức Trưởng Ty Cảnh Sát Đặc Biệt. Trong những mùa sinh viên Huế xuống đường tranh đấu, thầy trò tôi đã nhiều lần đối diện nhau qua hàng rào kẽm gai và làn khói lựu đạn cay mù mịt.Bên này chúng tôi vẫn là màu áo học trò hiền lành trong trắng .Bên kia là ông thầy cũ ,nón biệt kích,áo quần rằn ri nghênh ngang đi lại giữa bọn lính mang mặt nạ đầu heo và những con cho bẹc giê sẵn sang xông trận.

Chỉ riêng thầy Kiêm là gắn bó với nhà trường lâu nhất. Một lần sau ngày giải phóng, tôi trở về Huế tìm đến thăm thầy. Thầy mở quyển sổ cho tôi xem lại những dòng lưu bút của tuổi học trò. Tôi bồi hồi nhìn vào bản đồ lớp ngày ấy. Thời gian qua, khuôn mặt mọi người đã thay đổi nhiều.Thầy trò chúng tôi,mỗi người có một con đường, một số phận nhưng hình như ai cũng đã có sự lựa chọn và đã đi đúng con đường của mình.

___________________________
(Phỏng theo chuyện kể của thầy Phạm Kiêm Âu – Trường Quốc Học Huế.
Tên của các nhân vật đã được thay đổi)

           HAPPY BIRTHDAY TO YOU…

Gần nhà ông Trung tá Lê có một khu vườn vắng chủ gọi là vườn Mai Loan. Tuy mang cái tên đẹp như vậy nhưng đây chỉ là một khu đất trống, bốn phía rào sơ bằng kẽm gai và cọc sắt ấp chiến lược , bên trong mọc đầy cây hoang cỏ dại. Nguyên cái vườn nầy là của một viên sĩ quan chế độ cũ bao chiếm được từ những năm trước 1975 rồi giao cho một người lính thuộc cấp ở để trông coi. Hai chữ Mai Loan có lẽ là tên một người đẹp nào đó trong cuộc đời tình ái của viên sĩ quan nầy.

Hồi mới giải phóng, trung tá Lê làm trưởng ban Quân Quản đến kiểm kê thì thấy trong góc vườn rộng mênh mông này có một căn nhà nhỏ. mái tôn vách gạch đơn sơ nhưng khá sạch sẽ gọn gàng. Trong nhà có một người đàn ông trung niên và một bé gái chừng năm, sáu tuổi. Đó là gia đình người lính coi vườn của viên sĩ quan chế độ cũ đã di tản. Người coi vườn rụt rè hỏi trung tá Lê:

Dạ thưa !Như tôi là lính kèn có phải đi học tập không ạ?Nếu cách mạng bắt tôi đi học tập thì con nhỏ nầy không biết bỏ cho ai nuôi, tội nghiệp quá. Mẹ nó thì chết lâu rồi.

Ông Lê nhìn cha con người lính với vẻ thông cảm và ái ngại rồi trả lời một cách thận trọng và rất đúng chính sách:

Nếu anh quả thiệt là lính kèn thì chỉ cần học tập vài ngày ở địa phương để cho thông suốt chủ trương đường lối của chính quyền cách mạng. Còn nếu là thứ dữ thì nói thiệt, tôi cũng không biết làm sao mà giúp đỡ.

Người coi vườn nhanh nhẹn vào trong buồng mang ra một cây kèn đồng sáng chóe, phùng má biểu diễn một hơi rất thành thạo. Ông Lê gật đầu tin ngay và ra lệnh bằng giọng nói nhẹ nhàng:

Thôi được. Trước mắt anh cứ ở đây và tiếp tục coi vườn. Nhớ làm cỏ cho sạch sẽ bớt , đừng để người ta phá phách lấn chiếm tài sản của nhà nước. Sẵn đất bỏ không, anh có thể trồng thêm chút rau quả hoa màu mà cải thiện sinh hoạt cũng được.

Thấm thoát đã gần mười năm qua. Người lính kèn tóc đã bạc. Mấy năm nay ông kiếm được một chân thổi kèn trong ban nhạc âm công của một công ty mai táng, cuộc sống tạm ổn. Cô con gái tên là Bạch Mai, nay đã lớn lên thành một thiếu nữ xinh đẹp. Người lính kèn cũng nòi nghệ sĩ . Tuy hoàn cảnh gia đình còn khó khăn thiếu thốn. ông vẫn dành thì giờ dạy cho con gái ngón đàn thập lục ngày một điêu luyện. Bạch Mai đang học trường Trung Học. Khi còn là một đội viên khăn quàng đỏ cô đã đã biểu diễn đàn tranh trên sân khấu nhà trường , rất được hoan nghênh và nổi tiếng là một cây văn nghệ. Thỉnh thoảng sau mỗi buổi biểu diễn thành công, cô mang một chút hoa và quà tặng về khoe với cha. Những lúc đó người lính kèn cảm thấy rất được an ủi. Căn nhà của hai cha con vẫn như cũ nhưng ngoài sân có trồng thêm nhiều hoa kiểng và đặc biệt là một cây mai trắng sum sê. Dưới gốc mai, chủ nhà bày một bộ bàn ghế bằng đá mài để ngồi uống trà và tiếp khách. Người khách quí và cũng là bạn trà thân thiết của ông là trung tá Lê. Sau thời kỳ quân quản trung tá Lê đến hạn nghỉ hưu nhưng vẫn còn làm trưởng Ban nhân dân ấp một thời gian. Ông là người liêm khiết và nhân hậu nên trong khu vực ông phụ trách tuy phần lớn là gia đình quân nhân chế độ cũ nhưng ai cũng quí mến ông. Cũng nhờ ông có lòng thông cảm nên gia đình người lính kèn vẫn được sống yên ổn trong vườn Mai Loan từ hồi đó tới giờ. Hồi còn làm việc ở ấp, trung tá Lê đã nhiều lần đề nghị sử dụng phần đất trống trong vườn Mai Loan để xây nhà trẻ, trường học hoặc công viên nhưng địa phương không xin được kinh phí nên khu vườn vẫn cứ bỏ hoang.

Sau khi trung tá Lê nghỉ hưu, người thay ông trong chức vụ trưởng Ban nhân dân ấp là Út Bảnh.

Thời gian gần đây. Út Bảnh có vẻ quan tâm đặc biệt tới khu vườn nầy. Đã nhiều lần, Út Bảnh dẩn thêm vài người có vẻ là dân làm ăn tới nhìn ngang nhìn dọc bao quát cả khu vườn, lấy giấy bút vẽ sơ đồ phương án gì đó. Họ không hề nói năng đếm xỉa gì đến người lính kèn. Người lính kèn cảm thấy bất an, tới hỏi ý kiến trung tá Lê. Ông Lê trầm ngâm một lát rồi trả lời:

Cái vụ đó tôi cũng không rõ. Tuy nhiên khu vườn ấy là đất công thì trước sau gì nhà nước cũng sẽ thu hồi để sử dụng vào những việc công ích. Nhưng dầu sao trước khi thu hồi người ta cũng sẽ giải quyết nơi ăn chốn ở cho gia đình anh chứ đâu có thể để cha con anh ra nằm ngoài đường. Chính sách của Đảng và nhà nước là phải như vậy.

Nghe nói thế, người lính kèn cũng tạm thời yên tâm.

Năm nay năm nhuận, hoa mai nở sớm. Riêng cây mai nhà người lính kèn bao giờ cũng nở làm hai đợt. Trước Tết chừng một tháng nở lai rai. Vào Têt mới nở rộ. Ông ta gọi đó là cây mai nhị độ, lấy theo tích Nhị Độ Mai. Chiều hôm ấy ông già mang kèn ra ngồi tập thổi một khúc nhạc mới. Cái nghề thổi kèn đám ma coi vậy chứ cũng phải cập nhật . Ngoài những bài truyền thống như Hồn tử sĩ, Lòng mẹ, Uống nước nhớ nguồn …Nếu người chết là phụ nữ trẻ thì nên thổi bài Mùa Thu Lá Bay– Nam chết trẻ thì chơi Lambada. Nếu là bộ đội cách mạng thì: Đoàn Giải phóng quân một lần ra đi. Nếu là sĩ quan, binh lính chế độ cũ thì Cầu sông Kwai nghe cũng có lý. Gần đâycó thêm Một cõi đi về của Trịnh Công Sơn được các ban nhạc âm công đưa vào danh mục ca khúc mai táng. Lần này người lính kèn dợt lui dợt tới một khúc nhạc đơn giản chỉ có bốn câu. Cô con gái đi học về nghe mấy câu nhạc đó thì không nhịn cười được. Cô giằng cái kèn ra khỏi môi ông già nói:

Ba chơi bài này là lộn rồi. Đây là bài Happy Birthday để mừng sinh nhật chứ đâu phải để đưa đám ma?

Người lính kèn thản nhiên trả lời:

Không lộn đâu. Ba tập bài nầy để chuẩn bị mừng sinh nhật sắp tới của con gái ba đó chớ. Con quên rằng mồng bảy Tết năm nay con đã bước vào tuổi mười sáu rồi ư?

Bạch Mai chợt hiểu. Cô bé bồi hồi xúc động gục đầu vào vai ông già. Người lính kèn nhìn những cành mai trắng khai hoa lấm tấm, nói với giọng hoài niệm:

Ngày xưa mẹ con rất thích hoa mai trắng nên ba trồng cây mai nầy. Sinh nhật con lại nhằm ngày Tết nên mẹ đặt tên con là Bạch Mai. Mẹ còn dặn: nghèo gì cũng phải gắng cho con học đàn tranh. Chừng nào đên tuổi mười sáu, lễ sinh nhật của con phải được tổ chức đàng hoàng-có quà bánh, bạn bè đông đủ và nhất là phải có một cành mai trắng. Lúc ấy con gái của mẹ sẽ mặc áo lụa trắng, ngồi xõa tóc dưới hoa , chơi bản đàn thập lục mà mẹ ưa thích là bài Bến Xuân.

Nói đến đây ông cao hứng hát khe khẻ hát: “ Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước. Em đến tôi một lầnBao lũ chim rừng họp đàn trên khắp bến Xuân…” – À mà này! Con đàn bài nầy đã thuộc chưa đấy?

Bạch Mai mỉm cười:

Ba bắt con tập bài nầy cả trăm lần. Nhắm mắt đàn cũng được.

Hồi xưa mẹ con là một tay chơi đàn tranh có hạng. Cây đàn khảm ốc mà con đang dùng chính là di vật của mẹ đề lại. Năm nay ba định tổ chức sinh nhật con thật chu đáo để hoàn thành tâm nguyện của mẹ.

Câu chuyện tâm tình của hai cha con sẽ còn kéo dài nếu không có sự xuất hiện bất ngờ của hai người khách không mời mà đến. Một người là Út Bảnh, trưởng Ban nhân dân ấp. Người kia là Tư Xước, phó chủ tịch Huyện.

Út Bảnh nguyên là chủ một quán nhậu thịt cầy lấy bảng hiệu là “A!Đây rồi”. Cách đây mấy năm, có một người khách lạ mang một túi du lịch ghé vào quán. Ngồi chưa nóng chỗ bỗng thấy chiếc xe tuần tra của Tư Xước xuất hiện ở đàng xa. Khách hoảng hốt trao cái túi xách cho Út Bảnh, nói nhanh:

-“ Ông chủ làm ơn đem túi xách nầy ra sau cất giấu giùm. Có gì sau nầy tụi mình chia hai”.

Út Bảnh vừa cất giấu xong thì cái túi xách thì xe của Tư Xước đã đỗ xịch trước cửa quán. Tư Xước và mấy nhân viên kiểm tra giấy tờ của ông khách rồi mời lên xe đưa đi,về sau không thấy trở lại. Nghe nói y là một tay cầm đầu tổ chức vượt biên, chuyên lừa gạt người để lấy vàng. Trong cái túi xách mà y nhờ Út Bảnh cất giữ, nếu không phải là vàng thì cũng là một số tiền rất lớn. Từ đó Út Bảnh phất lên như diều. Hắn khôn khéo bỏ ra một ít tiền bạc ủng hộ phong trào nầy, công trình nọ rồi chạy chọt được chức trưởng Ban nhân dân ấp. Cái chức tuy nhỏ xíu nhưng cũng đủ tạo điều kiện cho Út Bảnh làm ăn. Tư Xước lúc này cũng làm đến phó chủ tịch Huyện, hết lòng cất nhắc, hổ trợ cho Út Bảnh. Hai người như đôi bợm gặp thời, chung lưng mở một lúc hai ba nhà hàng, quán bia ôm, điểm mátxa-thực chất đều là những động mãi dâm trá hình. Đối với bọn bất học vô thuật thì chỉ có làm ăn kiểu này mới mau giàu mà thôi.

Bữa nay hai nhân vật này hạ cố đến vườn Mai Loan chắc chắn không có gì tốt đẹp.

Út Bảnh đi thẳng vào đề:

Chúng tôi được lệnh thu hồi toàn bộ diện tích khu vườn nầy để xây dựng một trung tâm phục hồi sức khỏe. Vậy yêu cầu ông già chuẩn bị dọn đi nơi khác để chúng tôi giải phóng mặt bằng.

Người lính kèn choáng váng như trúng một cú búa tạ , sửng sốt kêu lên:

Trời đất. Vậy chúng tôi biết đi đâu giờ!

Út Bảnh nói:

Đi đâu tùy ông. Trước mắt nếu chưa có chỗ tá túc thì có thể ra nơi khu Đền Hoang mà ở tạm. Một số gia đình khác cũng đã được bố trí ra đấy rồi.

Bạch Mai đã nghe rõ mọi chuyện. Cô run run nói:

Chỗ Đền Hoang toàn dân xì ke ma túy, bụi đời. Ở chung với họ chắc con chết mất mấy chú ơi!

Út Bảnh lên giọng dạy đời:

Người ta cũng người, mình cũng người. Người ta ở được sao mình không ở được? Bộ mấy người tưởng mấy người cao sang lắm sao?

Vừa nói hắn vừa quét một cái nhìn sỗ sàng lên những đường nét thanh xuân trên thân thể cô gái mới lớn, mắt ánh lên vẻ ngưỡng mộ phàm tục của một tên ma cô chuyên nghiệp. Những cô gái nhà lành rất dị ứng với ánh mắt này. Bạch Mai khó chịu, quay lưng đi vào nhà trong. Lại nghe Út Bảnh dịu giọng lên tiếng:

“ Chịu khó một thời gian nữa đi. Chừng nào cơ sở phục hồi sức khỏe nầy đi vào hoạt động, tôi sẽ đưa em gái đây vào làm việc, bảo đảm lương hậu, thoải mái thôi.

Người lính kèn nghe câu nói nầy, chẳng những không vui mà còn lo sợ. Ai còn lạ gì những cơ sở làm ăn của Út Bảnh. Tiếng là phục hồi sức khỏe nhưng chẳng qua là kế hoạch che mắt thiên hạ, biến vườn Mai Loan thành ổ mại dâm trá hình. Con gái ông mà sa vào đó, có khác gì nàng Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh. Ông ngước mắt nhìn Tư Xước cầu cứu:

Xin đồng chí phó chủ tịch xét lại cho cha con tui nhờ được không?

Phó chủ tịch Tư Xước cùng với ấp trưởng Út Bảnh vốn là một đồng một cốt. Ông ta lạnh lùng lắc đầu :

Huyện đã có nghị quyết. Yêu cầu ông chấp hành nghiêm túc.

Út Bảnh nói rõ thêm:

Trước mắt gia đình ông cứ ăn Tết cho vui vẻ, sau ba ngày Tết dọn đi cũng được. Đúng sáng mồng bảy, chúng tôi sẽ đưa xe cơ giới đến san ủi mặt bằng. Chừng đó ông già còn để sót lại cái gì là cái đó kể như bỏ.

Người lính kèn biết rằng những người này đã nói là làm. Nhưng nghĩ đến sinh nhật của con gái dự định tổ chức vào ngày mồng bảy Tết , ông thử năn nỉ:

Hay là xin các ông hoản lại cho chúng tôi thêm một ngày. Qua mồng tám chúng tôi sẽ ra đi, được không?

Út Bảnh lắc đầu:

Không được. Ngày giờ khởi công đã ghi trong hợp đồng với nhà nước, đâu có thể tùy tiện thay đổi.

Hai ông khách đi rồi, ông già ngồi sững sờ, chiếc kèn đồng rơi lăn lóc trên mặt đất hồi nào không hay. Bạch Mai nhặt chiếc kèn lên an ủi cha:

Con nghĩ ra rồi. Mình còn có bác Lê mà. Để con đi hỏi ý kiến bác Lê. Dầu sao cũng chưa hết hy vọng.

Trung tá Lê đã nghe phong phanh chuyện này từ lâu. Nếu chỉ là âm mưu của Út Bảnh thì ông còn có thể can thiệp được. Nhưng đây lại có cả Tư Xước, làm gì cũng lấy danh nghĩa Huyện ra lót miệng thì ông rất khó đối phó .

Vì vậy khi Bạch Mai đến cầu cứu thì ông chỉ biết thở dài lắc đầu than:

Giờ bác cũng không thể làm gì được đâu cháu ơi!

Trung tá Lê nói câu đó với giọng ai oán, như thử trong câu chuyện này chính ông cũng đang ở về phía có lỗi. Bạch Mai hiểu rằng đã hết hy vọng. Sắc mặt cô tái nhợt đồng thời cô cũng nhận ra trên nét mặt và trong ánh mắt của ông Lê cũng có những dấu hiệu của sự mệt mỏi và tuyệt vọng giống như cô. Bỗng chốc cô bé bình tĩnh trở lại. Nguyên Bạch Mai được giáo dục và lớn lên trong sinh hoạt tập thể. Cô đã từng là cán bộ lớp, cán bộ Sao Đỏ phụ trách Đội nên có thói quen tốt là mỗi khi gặp việc gì khó khăn vẫn vui tươi để củng cố tinh thần của mình và động viên người khác. Trong khi Trung tá Lê còn chưa kịp an ủi cô thì cô đã tự trấn an:

Bác mà từ chối thì chắc là không còn ai có thể giúp gia đình cháu được rồi. Nhưng không sao. Hồi nãy mấy chú nói chừng nào cơ sở phục hồi sức khỏe xây dựng xong sẽ ưu tiên cho cháu vào làm việc trong đó. Như thế cũng tốt.

Trung tá Lê nghe câu này thì nhỗm dậy như bị điện giật. Nhìn khuôn mặt ngây thơ trong sáng như bông hoa vô nhiễm của Bạch Mai, ông xót xa nghĩ thầm:chẳng lẽ cô bé nầy không còn chọn lựa nào khác là bước chân vào hệ thống hang động của bọn ma cô như Út Bảnh và Tư Xước?Có thật không ai còn giúp đỡ được cô bé? Không!Bạn bè, đồng chí, đồng đội của ta nhiều người vẫn còn giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan của Đảng và nhà nước. Những người chân chính đã chết hết đâu mà để bọn dòi bọ nầy lộng hành dữ vậy?Không thể được. Bất giác hùng tâm tráng khí trong người ông nổi dậy. Ông đặt tay lên vai cô bé nói với giọng quả quyết và đầy trách nhiệm: “Bác sẽ cố gắng một phen và mong cháu cũng sẽ vững vàng để vượt qua cơn khó khăn nầy. ”

Thế rồi ngay ngày hôm sau, ông đã xông xáo gõ cửa nhiều nhân vật có thực lực, rung động nhiều đường dây tổ chức của Đảng và chính quyền. Sau gần một tháng chạy ngược chạy xuôi không kể ngày đêm, những cố gắng của trung tá Lê đã có kết quả . Ông đã thâu thập được khá đầy đủ bằng chứng về những hoạt động phi pháp của bọn Út Bảnh, Tư Xước. Ngoài việc kinh doanh phụ nữ, bọn này còn có những hành động lạm dụng chức quyền, bao chiếm đất đai, huy động và chiếm dụng vốn, tổ chức đường dây vượt biên . Kể cả vụ Tư Xước và Út Bảnh chiếm đoạt túi vàng của người vượt biên trước kia cũng đã bị phanh phui.

Trong khi đó, tinh thần suy sụp, người lính kèn ngã bịnh mãi đến chiều ba mươi Tết mới gượng gạo ngồi dậy. Ông uể oải mang chiếc kèn ra ngồi dưới gốc mai thử dợt lại mấy câu trong bài hát:

Happy birthday to you   
Happy birthday to you …
Happy birthday, happy birthday
Happy birthday to you.

Giọng kèn mệt mỏi, yếu ớt và run rẩy , khi thì dài lê thê, khi thì lịm dần như một tiếng thở dài não nuột. Bạch Mai im lặng ngồi nghe. Cô hiểu rằng mỗi một hơi kèn nặng nhọc của cha có ý nghĩa như một lời chúc mừng tràn đầy yêu thương. Bỗng nhớ tới tâm nguyện của mẹ, cô bước vào nhà thay bộ đồng phục áo dài trắng của nhà trường rồi mang chiếc đàn tranh khảm ốc ra ngồi đối diện với cha. Mười ngón tay xinh xắn nhảy múa trên mười sáu sợi dây đàn. Mái tóc đen nháy buông xõa xuống hai bờ vai như suối chảy. Những cánh hoa mai như cánh bướm trắng bay đậu trên dòng suối tóc. Cô khe khẻ hát theo đàn:

 Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước. Em đến tôi một lần.
Bao lũ chim rừng họp đàn trên khắp bến Xuân…
Từng đôi rung cánh trắng ríu rít ca u ù u ú…cành đào hoen nắng chan hòa.
Chim ca thương mến chim ngân xa u ù u ú…hồn mùa ngây ngất trầm vương.
Dìu nhau theo dốc suối nơi ven đèo. Còn thấy chim ghen lời âu yếm.
Tới đây chân bước cùng ngập ngừng. Mắt em như dáng thuyền soi nước
Tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến Xuân…

Đén đây cô đẩy cung bậc lên cao vút, từng giọt đàn dồn dập thánh thót như thử những giọt máu trên đầu ngón tay nhỏ ra, rơi vào số phận. Giọng hát của cô trở nên nghẹn ngào :

Sương mênh mông che lấp kín non xanh, cánh nhạn vào mây thiết tha…

Giọng hát của cô nhỏ dần, mong manh như sợi chỉ. Mười ngón tay rã rời buông xuôi trên phím đàn. Đàn không đứt dây mà bặt tiếng. Cha cô dường như đã quá mệt mỏi, nghiêng đầu lim dim ngủ. Bạch Mai hiểu rằng buỗi tiệc mừng sinh nhật của cô chỉ có thế và đến đây là hết. Cô nhắm nghiền đôi mắt để cho hai dòng lệ tràn hết ra và chảy dài xuống má.

Bỗng có tiếng trung tá Lê gọi lớn ở ngoài cổng kéo Bạch Mai trở về thực tại. Cô buông đàn chạy ra đón khách thì được nghe Trung tá Lê báo một tin vô cùng phấn khởi :

Hai cha con không phải dọn đi đâu hết. Kế hoạch xây dựng cơ sở phục hồi sức khỏe ở vườn Mai Loan đã bị hủy bỏ. Út Bảnh và Tư Xước đều bị đình chỉ công tác để điều tra. Cả hai đang phải đối diện với án tù.

Bạch Mai mừng rú, chạy vào báo tin cho cha. Hẵn cha cô sẽ sung sướng như người chết đi sống lại. Nhưng kìa! Dưới gốc mai già, cha cô ngồi ngoẹo đầu bên chiếc kèn. Trung tá Lê đến bên lay gọi nhưng da thịt ông đã lạnh ngắt cũng như chiếc kèn đồng mà ông đang ôm khư khư trong người. Trung tá Lê buồn rầu bảo Bạch Mai:

– Muộn rồi cháu ơi! Cha cháu đã ra đi.

Nhìn cô bé ôm mặt khóc nức nở, trung tá Lê thấy lòng xót xa hụt hẫng. Trong vụ Út Bảnh-Tư Xước ông đã hạ quyết tâm đem hết sức mình đánh một trận cuối trong cuộc đời chiến binh, tưởng đã giành được toàn thắng ai dè vẫn muộn một bước. Hình như trong khi đeo đuổi số phận con người-cái xấu, cái ác và nỗi bất hạnh bao giờ cũng rất nhanh chân.

Lại nhìn người bạn láng giềng xấu số vừa lặng lẽ từ giả cõi đời, ông trung tá về hưu cúi đầu ngẫm nghĩ:

“ Như người lính già nầyđã biết bao lần đánh trống thổi kèn để chào mừng những chiến công giả tạo trong các buổi lễ duyệt binh của quân đội cộng hòa ngày trước- đâu có ngờ rằng niềm mong muốn cuối cùng chỉ là được thổi một bài thật vui vẻ để chúc mừng sinh nhật của con gái mà cũng không thực hiện được. Còn như bản thân ông Lê-mỗi lần xuân về lại hoài tưởng đến những cánh mai vàng xôn xao bay vào kỷ niệm. Năm xưa vượt Trường Sơn, khi đến bên bờ sông Ô Lâu bỗng thấy hoa mai rừng rơi đầy trên đường hành quân lỡm chỡm đá tai mèo. Lúc ấy từ trong chiếc đài bán dẩn mang bên mình giọng cô ca sĩ của đoàn Văn Công Giải Phóng bay vút lên như tiếng chim sơn ca, nghe đến nức lòng: “ Ấy ai có đi vô trong chiến trường, hỏi rằng chứ mùa nầy hoa mai đã nở chưa?Đẹp lắm chứ hoa nở khắp chốn. Mùa hoa chiến công nở rộ khắp nơi…”

Nếu như không có những hình ảnh xinh đẹp đó nuôi nấng tâm hồn thì có lẽ giờ đây ông cũng chỉ là một người lính già bị chính mình quên lãng- xét cho cùng thân phận đâu có khác gì người lính thổi kèn kia. ” Kiêu hãnh nhưng cô đơn và mệt mỏi gần như kiệt sức, hơn lúc nào hết, ông trung tá về hưu cảm thấy thấm thía nỗi đau của đời người mà một nhà thơ nào đó đã viết:

 Sương rơi trắng bạc đầu non
Qua truông bạc tóc vẫn còn bơ vơ”…

Sau đám tang, Bạch Mai không dám ở một mình trong vườn Mai Loan. Cô về dưới quê tạm nương náu bà con. Vào sáng mồng bảy có một chú bộ đội mặt mày non choẹt tìm vào nhà cô để chúc mừng sinh nhật. Chú là bạn thân của cô, trước đây cùng hoạt động trong đội văn nghệ học sinh –nay đi nghĩa vụ quân sự ở chiến trường biên giới phía Tây mới được về phép. Thấy nhà cửa đóng then gài, trước sau vắng vẻ, chú đứng ngẩn ngơ một hồi rồi mở ba lô lấy ra một tấm thiệp xinh xắn treo lên cành mai. Đây là loại thiệp có nhạc. Mỗi khi gió thổi qua, cánh thiệp hé mở, bên trong phát ra những âm thanh reo vui như tiếng chim kêu trong chuyện cổ tích. Điệu nhạc vui vẻ nầy vẫn thường vang lên khắp nơi trên thế giới để chúc mừng mỗi con người sinh ra trên hành tinh của nó:

Happy birthday to you
Happy birthday to you …

Chú bộ đội đi rồi, trong cảnh Xuân tịch mịch của vườn Mai Loan chỉ còn cây mai nhị độ cúi đầu lặng lẽ đánh rơi những cánh hoa nở muộn màng bên thềm vắng.

Một số sách của Hoàng Phủ Ngọc Phan đã xuất bản.

Sách Ông Phan

HPNP.

Card Hpnp

Bài 37

LÀM CHƠI ĂN THIỆT

NGƯỢC LẠI!

__________________________

      Năm 2019,Nhà Xuất Bản TRẺ in 3 tập CHUYỆN CƯỜI 1-2-3 của Hoàng Thiếu Phủ (bút hiệu của Hoàng Phủ Ngọc Phan).Chắc trong đó có những chuyện cười không nổi nên Cục Xuất Bản ra lệnh giam sách vô kho,không cho phát hành.

     Ông Phan buồn tình ngồi viết một mẫu bút ký nhan đề PHỞ MỤ LIẾC ,chừng 1000 chữ đăng trên báo Tuổi Trẻ.Ai ngờ mẫu bút ký lọt mắt xanh của Công ty ACECOOK.Họ cho xe chở tới tận nhà tặng tác giả bài báo một mớ Phở đủ loại.Ông Phan ăn không kịp,cho bớt nhà nầy nhà kia.

Té ra làm chơi mà ăn thiệt.Còn làm thiệt thì đôi khi…nuốt không nổi!!!

Sau đây,ai chưa đọc Chuyện Cười thì xin mời đọc Phở Mụ Liếc –cũng vui.

                                                                        Tet2019 25 Tác giả đón Xuân hạnh phúc bên mấy thùng Phở ACECOOK.                                                                                   HPNP.

PHỞ MỤ LIẾC

_________________                                                                                                HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN

 

  • Xứ Huế xưa nay vẫn được xem là vương quốc của Bún Bò. Thế nhưng  cách đây hơn năm mươi  năm,ở Thành Nội-Huế từng có một gánh Phở xuất hiện như một thương hiệu nổi tiếng. Đó là gánh Phở  của vợ chồng mụ Liếc.

Hai tiếng Mụ Liếc gần như  là một danh từ chung mà người Huế hay dùng để gán cho những phụ nữ có thân hình mập ú.Nguyên trước đó đã có một bà mập ú tên thực là Liếc hằng ngày ngồi thâu tiền đò trên bến Thừa Phủ bên sông Hương.Một nhân vật cuồng sĩ đương thời là ông Nguyễn Văn có  bài thơ làm chứng như sau: “Mụ Liếc phì nộn đẫy đà/ Nặng gần hai tạ ngó mà sướng ghê/ Ba vòng như một bộn bề / Ngồi xe xe xẹp, ngồi ghe ghe chìm”.Chính từ hình ảnh mụ Liếc bến đò nầy mà chết tên mụ Liếc bán phở.Tuy nhiên so với mụ Liếc bến đò thì mụ Liếc bán phở tương đối gọn gàng và lanh lẹ hơn.Mụ chuyên việc gánh phở,bưng bê,thâu tiền,lặt rau và rửa chén bát.Ngược lại chồng mụ-ông Liếc thì nhỏ thó,đen nhẻm và lùn tịt.Tuy nhiên chính ông mới là chủ nhân của gánh phở. Ông là kỹ thuật viên,lo từ khâu lựa chọn thịt tươi ngoài chợ đem về hầm trong nồi đến khâu pha chế thành tái,nạm,ngầu,gân…rồi chia ra tô lớn,tô nhỏ phục vụ cho khách.Ông có một cái túi vải nho nhỏ bên trong đựng những hương liệu như tai đinh ,tai hồi,quế, ngò, gừng,thảo quả…Cái túi này chính là cẩm nang tạo nên mùi thơm hấp dẩn đặc biệt của phở. Phải ninh cái túi ấy hằng giờ trong nồi nước lèo để những hương liệu kết hợp với nhau rồi một phần ngấm vào thịt bò,một phần bốc thành hơi lan tỏa trong không khí.Phải canh chừng bếp lửa lúc lớn lúc nhỏ và không để lửa tắt.Những chuyện nầy hình như quá rắc rối đối với mụ Liếc nên ông không buồn truyền nghề  cho mụ mà mụ cũng làm biếng, không màng học hỏi.Ông Liếc rất ít nói.Chỉ thỉnh thoảng ngữa mặt lên trời cất giọng rao một tiếng “ Ớ” ( Nghĩa là Phở) rất sắc nhọn rồi gõ cặp song lan thành tiếng sực tắc liên hồi.Không biết hai con người như đôi đũa lệch ấy đã gặp nhau trong hoàn cảnh nào mà trở thành vợ chồng.Thôi thì thế cũng tốt.

Hồi ấy tôi từng được ăn phở mụ Liếc nhiều lần.Đó là những lần theo gia đình đi xem phim về khuya.Trên đường về đói bụng gặp gánh phở mụ Liếc,cả nhà xúm xít lại.Mỗi người một tô hãy còn thòm thèm, bèn kêu thêm một mớ xí quách gặm cho đã. Vừa ăn vừa bàn luận rôm rả về những diễn viên  điện ảnh thượng thặng của Hollywood như John Wayne,Kirk Douglas,Marilyn Monroe,Liz Taylor… Hình như hồi ấy phim hay hơn và phở cũng ngon hơn bây giờ. Nghĩ lại có khi phim hay hơn nhờ phở và phở ngon hơn nhờ phim chăng?

Thế rồi đến một năm nào đó,người ta không còn thấy bóng dáng vợ chồng mụ Liếc nữa. Cả cái liên khúc sực tắc quen thuộc  cũng bặt tiếng.Nghe nói ông Liếc bị bệnh nặng đã qua đời.Một mình mụ Liếc không thể tiếp tục hành nghề.Gánh phở này cần có đủ hai người-dù là đôi đũa lệch nhưng thiếu một chiếc cũng không được.

Lâu nay tôi đã có dịp thưởng thức những thương hiệu phở đặc biệt ở nhiều nơi.Nói thiệt,ăn chỉ vì tò mò. Lúc trả tiền  thường hơi xót ruột vì cảm giác bị chặt chém rồi sau ít bữa là quên hết,phở nào cũng như phở nào.Duy chỉ cái gánh phở  bình dân của mụ Liếc thì mãi vẫn  còn trong ký ức.

Trong ký ức ấy thỉnh thoảng như vẫn nghe văng vẳng tiếng song lan.Âm thanh nầy dễ thương hơn nhiều so với tiếng ồn của các giàn loa quảng cáo ngày đêm phát toàn nhạc rác trên đường phố.Vẫn thèm cái mùi hương tỏa lan từ gánh phở mặc dù đôi khi trong đó có cả chút khói cay  đọng vào mắt.Rất ấn tượng với cái bếp lửa bập bùng trong đêm lạnh,như  khẳng định sự có mặt ấm áp và thân thiện của loài phở trong vương quốc rộng lớn của loài bún bò.Và cũng ngùi nhớ hình ảnh vợ chồng mụ Liếc,hai phận người cọng sinh nửa đường gãy gánh-cả gánh tình lẫn gánh phở.

Người ta nói: văn hóa là những gì còn lại sau khi những thứ khác đã bị quên lãng.Vì vậy với tôi, ký ức về phở mụ Liếc cũng là một thứ văn hóa và đó  là văn hóa ẩm thực.

                                                                                                                                   HPNP.