Văn Hóa Văn Nghệ

 

HOÀNG THI THAO

VÀ CÂY VĨ CẦM CỦA THỜI THƠ ẤU

      Hoàng Thi Thao sinh năm 1945.đến thập niên 1950 đã bắt đầu nổi tiếng như là một thần đồng vĩ cầm trên sân khấu ca nhạc ở miến Nam Việt Nam.Ông vừa là con nuôi vừa là cháu kêu nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ bằng chú ruột-được nhạc sĩ huấn luyện,dìu dắt trên con đường nghệ thuật.Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ vốn sở trường về vĩ cầm nên đã đem hết sở đắc của mình truyền thụ cho Hoàng Thi Thao giống như một vị sư phụ truyền y bát cho đệ tử ruột.Nhờ khổ công luyện tập,Hoàng Thi Thao đã không làm cho sư phụ thất vọng.Bắt đầu nhập môn vào năm 1952,lúc ấy Hoàng Thi Thao mới 7 tuổi- ba năm sau.chưa đầy 10 tuổi,Hoàng Thi Thao đã trở thành ngôi sao  tỏa sáng trên sân khấu với ngón đàn vĩ cầm điêu luyện.Trong tiết mục Cò Tây-cò Ta, Hoàng Thi Thao chơi violon hòa cùng cây đàn cò ( nhị hồ) của nhạc sĩ Lữ Liên,luôn luôn được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt.

Đến tuổi trưởng thành,nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ muốn ông được đào tạo một cách căn bản và đầy đủ nên đã cho Hoàng Thi Thao theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc ở Sài Gòn.Đến lúc nầy,Hoàng Thi Thao mới nhận ra rằng cái âm nhạc hàn lâm ở nhạc viện rất khác với âm nhạc biểu diễn trên sân khấu.Ông thú nhận: “Những thành công trên sân khấu hồi còn nhỏ tuy có đem lại ít nhiều danh tiếng và tiền bạc nhưng chưa chắc mình đã có đủ năng khiếu âm nhạc.Nay nghe tiếng vĩ cầm của các nghệ sĩ danh gia mới hiểu rằng mình không thể nào theo nổi.”Tuy là nói vậy nhưng đã trót làm bạn với cây đàn là vướng vào nghiệp dĩ,cũng như kiếp con tầm vương tơ. Vào khoảng năm 1980,Hoàng Thi Thao sang định cư ở Mỹ.Thỉnh thoảng vẫn theo chú Hoàng Thi Thơ đi biểu diễn ở các sân khấu lớn nhỏ.Tiếng đàn vẫn còn ngọt ngào,nước rung ngày càng điêu luyện.Chiếc đàn vĩ cầm của ngày thơ ấu và những âm thanh huyền diệu của nó vẫn theo Hoàng Thi Thao đi xa,vang xa…nghìn trùng xa.                                                                                                                      HOÀNG DẠ THI

HOÀNG THI THAO .

Bài 20

Hoàng Thi Thao và Lữ Liên
TRONG VỞ DIỄN CÒ TÂY CÒ TA

Cò Tây chỉ cây đàn vĩ cầm (violon) và Cò Ta ở đây là cây nhị hồ cầm, thường gọi là đàn gáo của Việt Nam. Cò Tây Cò Ta là một tiết mục do Hoàng Thi Thao và Lữ Liên biểu diễn – luôn luôn được hoan nghênh nhiệt liệt trên sân khấu văn nghệ của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ từ thập niên 1950 đến trước1975. Lúc ấy Hoàng Thi Thao còn nhỏ được gọi là thần đồng và Lữ Liên là danh hài của Ban AVT. Tiết mục này được hoan nghênh không chỉ vì tính chất vui nhộn mà còn do ý nghĩa tôn vinh văn hóa của phương Đông và của Việt Nam.

Hôm nay chúng ta gặp lại Hoàng Thi Thao và Lữ Liên thì hai nghệ sĩ trên không còn  nữa nhưng tiết mục CÒ TÂY CÒ TA vẫn còn hấp dẫn như thuở nào.

                                                                                                                                                             (Sưu tầm)

 

Bài 21

NHỮNG KỶ NIỆM CÙNG ANH HOÀNG THI THAO

                                                                                  CHÂU LA VIỆT *

     Trước khi vào sinh sống ở miền Nam cùng với 2 người cháu ruột là Hoàng Thi Thao và Hoàng Kiều, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã có một người con với ca sĩ dòng nhạc đỏ Tân Nhân, tên là Hoàng Hữu Hoài (có bút danh là Châu La Việt). Do hoàn cảnh đất nước nên kẻ Bắc, người Nam, rồi nhiều năm sau đó 2 cha con mới gặp mặt nhau.

Câu chuyện xúc động dưới đây được ông Hoàng Hữu Hoài kể lại, về những kỷ niệm với Hoàng Thi Thao khi lần đầu hai anh em gặp nhau vào năm 1976.

 

Châu La Việt gặp lại cha là nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sau 40 năm

Sau năm 1975, tôi rất háo hức vào Sài Gòn tìm cha, tìm bà con mà vẫn chưa có dịp đi. Lúc đó nhạc sĩ Trần Tiến vừa trong Nam ra, nói với tôi: “Mày có thằng anh, Hoàng thi Thao, artist lắm, nó chơi violon được coi là thần đồng. Tính tình hay lắm”.

Rồi anh Trần Tiến kể cho tôi nghe câu chuyện trên và mô tả thêm đôi nét về dung nhan anh Thao cho tôi nghe.

Một thời gian ngắn sau, tôi có dịp vào Sài gòn.

Anh Hoàng Thi Thảo kể trên báo:

“Năm 1976 , đang ngồi trên 1 chiếc cyclo (xích lô) trở về nhà ở Phú Nhuận từ phố Tự Do (Đồng Khởi).  Bỗng 1 thanh niên trẻ đang đi xe đạp thò đầu vào hỏi:

– Thưa có phải anh Thao?

Hơi bất ngờ, chưa xác nhận, nhưng tôi hỏi lại :

– Có phải em là Hoài?

Thế là anh em trùng phùng, mặc dù từ khi sinh ra chúng tôi kẻ Nam người Bắc chưa từng đựoc gặp nhau, không biết mặt nhau?

Tôi đưa Hoài về nhà, rồi chạy tới nhà nhạc sĩ Hòang Thi Thơ (lúc ấy đang đi trình diễn tại Tokyo – Nhật) tìm lại 1 ít quần áo của ông để tặng cho Hoài, với mong ước Hoài tìm lại đựoc chút ấm lòng với bộ quần áo của cha ruột mình”.

Câu chuyện trên do đích thân anh Hoàng Thi Thao kể cho báo chí. Anh là con trai bác Nghè, anh ruột của ba tôi. Nghĩa anh và tôi là anh em con chú bác ruột. Nhưng còn hơn thế nữa, vì anh được ba tôi mang theo vào Sài Gòn từ nhỏ, (cùng anh Hoàng Kiều), nên hai anh được ba tôi coi như con ruột. Ngược lại, hai anh cũng hằng coi ba tôi như dưỡng phụ của mình.

Đúng như anh Trần Tiến kể, anh Thao là một nghệ sĩ cởi mở, thân tình, văn nghệ sĩ Sài Gòn anh thân và nhậu chung đã đành, mà văn nghệ sỹ miền bắc mới vào anh cũng thân thiết, đặc biệt với các anh Phạm Tiến Duật và nhạc sĩ Trần Tiến.

Sau này vào Sài Gòn, tôi nhận được ra anh Thao ngay giữa phố phường Sài Gòn đông đúc, rồi anh em trùng phùng, là bởi từ nhiều đặc điểm của anh do anh Trần Tiến vào Nam trước đó ra Hà Nội kể lại. Những năm 1950, ba tôi là chú ruột đã mang anh Thao, cùng anh Hoàng Kiều vào Sài Gòn nuôi dưỡng, đi dạy ngoại ngữ để lấy tiền nuôi các cháu, và cũng là để nuôi tình yêu và chí hướng âm nhạc của mình.

Ba tôi cho anh Kiều học piano, còn anh Thao học violon, với hy vọng sau này các anh cũng sẽ theo con đường nghệ thuật. Anh Thao được tấn phong là một “thần đồng âm nhạc”, còn anh Hoàng Kiều học đàn một thời gian ngắn rồi thôi, lăn lộn vào trường đời, và sau là một doanh nhân tầm cỡ thế giới (anh Hoàng Kiều cũng là người gọi cố Bộ trưởng Trần Hoàn là cậu, gần như là cậu ruột).

Về sự gắn bó của anh Thao với ba tôi, đã có lần anh kể: Vào đến Sài Gòn năm 1952. Thoạt đầu hai chú cháu ở trọ tại căn nhà số 47 trên đường Catinat (tức đường Tự Do sau đó và là đường Đồng Khởi hiện nay) của một người quản gia cho một gia đình người Pháp. Lúc đó Hoàng Thi Thao lên 7 tuổi và bắt đầu theo học đàn violin, gần như do sự ép buộc của ông chú họ Hoàng rất mê vĩ cầm cho nên “Ông ấy muốn ép tôi học nhạc khí này. Ông ấy tưởng tôi thông minh lắm, tưởng là tôi có khiếu về nhạc lắm nên nhất định ép học violon cho bằng đựợc”.

Hoàng Thi Thao tâm sự thêm là tuy lúc nhỏ có được chút lanh lợi nhưng chưa chắc đã là có khiếu học nhạc. Nhất là anh không cảm thấy thú vị gì khi được đề nghị theo học vĩ cầm. Trái lại còn cảm thấy rất cực, rất mệt. “Thế nhưng rồi bị đòn, bị bắt buộc rồi cũng phải đàn thuộc thôi!”. Tuy nhiên sau đó anh trở nên một người rất đam mê âm nhạc, cũng như người chú và là cha nuôi của mình, là người luôn có mặt với cây vĩ cầm trong những đoàn văn nghệ do người chú nổi danh của anh làm trưởng đoàn để có dịp đi trình diễn khắp nơi.

 

Đặc biệt anh trở thành một tên tuổi rất quen thuộc với khán giả trong tiết mục “Cò Tây, Cò Ta” với nhạc sĩ Lữ Liên. Anh sử dụng violon, trong khi nhạc sĩ Lữ Liên sử dụng đàn cò gây rất nhiều thú vị cho khán thính giả suốt hàng chục năm qua.

Sau hơn một năm ở trọ căn nhà trên đường Catinat, hai chú cháu lại tiếp tục cùng nhau ở trọ tại một số nơi khác… Do đó tình chú cháu càng này càng trở nên gần gũi hơn trong những hoàn cảnh thiếu thốn và nghèo túng.

“Thời đó, lúc nào cũng ăn rồi đi ở trọ thôi. Hai chú cháu chỉ có trần xì một cái ghế bố tại vì nghèo lắm”. Ở trọ hết nhà này qua nhà khác, nhưng đối với Hoàng Thi Thao, anh nhận thấy thời kỳ hai chú cháu đi ở trọ là thời kỳ anh ghi nhớ nhiều kỷ niệm nhất về ông chú rất khó tính với anh khi còn nhỏ:

“Hồi xưa lúc tôi còn bé, ông ấy khó tính với tôi lắm. Sau này chắc ông ấy thấy khó khăn như vậy rất vô ích với lại có vẻ trật đường thành ra ông ấy trở nên dễ dãi. Tuy nhiên ông ấy cũng có những cái rất khó đối với cách đối xử. Ông ấy muốn là lúc nào người khác cũng phải long trọng với ông ấy chứ đừng giỡn mặt. Cũng vì vậy anh không sao quên được những trận đòn kinh hoàng mà ông chú Hoàng Thi Thơ đã dành cho anh. Tuy nhiên anh không lấy thế làm buồn giận vì biết người ông chú chỉ muốn anh nên người…”

Hoàng Thi Thao cũng không thể quên những buổi tối, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ – trước khi lập gia đình vào năm 1957 – chở anh trên chiếc xe Vespa cũ mèm đến những rạp chiếu bóng ở Sài Gòn và Chợ Lớn như Việt Long, Moderne, Thanh Bình, Cathay,… để trình diễn vĩ cầm trong các chương trình phụ diễn tân nhạc vào thời đó.

 

Năm 2008, theo nguyện vọng của mẹ tôi, tôi và vợ tôi đi Mỹ. Vì công việc, chúng tôi phải đến bờ Đông nước Mỹ trước, cho đến khi sắp về nước, mới tới được bờ Tây, tìm đến công viên vĩnh hằng nơi ba tôi yên nghỉ, với bản đồ chỉ dẫn của một người bạn là anh Nguyễn Hiệp, và do anh Hoàng Thi Thao và anh Hoàng Hữu Quýnh (Anh ruột anh Hoàng Kiều) đưa đi.

Vợ chồng tôi đã cung kính thay mặt mẹ tôi thắp hương cho ba tôi, thưa với ba tôi những tình cảm quý trọng của mẹ tôi cũng như nguyện vọng của mẹ tôi với những tác phẩm âm nhạc viết về quê hương đất nước rất thắm thiết của ba tôi… Những dòng nước mắt chảy dài trên má tôi, tôi hiểu đấy là nước mắt của cả tôi và của cả mẹ tôi thương tiếc nhạc sĩ. Vợ tôi cùng anh Quýnh, anh Thao đứng bên cũng không ghìm được dòng nước mắt…

Có một chi tiết này tôi không thể không nhắc lại: Khi ra về, bỗng nhiên trời trở lạnh. Anh Thao cởi chiếc áo ấm đang mặc khóac lên người tôi. Thú thật tôi định từ chối, nhưng anh giữ tay tôi lại: “Em cứ mặc cho ấm”.

Tôi về Khách sạn, do mải chuyện với anh nên khi anh lái xe ra về, mới sực nhớ ra mình quên chưa gửi lại áo ấm cho anh.Tôi biết khi ấy anh không quên điều này (anh rất thông minh), nhưng anh đã cố tình ” quên” vì muốn tôi giữ lại áo của anh để mặc ấm những ngày ở Mỹ…

Đến giờ tôi vẫn giữ chiếc áo ấy. Cũng giản dị thôi, nhưng ấm áp vô cùng.

__________________________________________________ CLV.

 * CHÂU LA VIỆT là bút hiệu của Hoàng Hữu Hoài (Đ 15) – Con đầu của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và ca sĩ Tân Nhân. 

Châu La Việt (phải) và Hoàng Thi Thao

Htthao & Clv

 

Bài 22

BÀI TRẢ LỜI PHỎNG VẤN NỔI TIẾNG

CỦA HOÀNG THI THAO VỀ TRỊNH CÔNG SƠN 

TRÊN ĐÀI TRUYỀN HÌNH LITTLE SAIGON Ở MỸ

NĂM 2009.

________________________________________________________

     Sau các bài viết của Trịnh Cung, Đặng Văn Âu, đặc biệt là của Liên Thành, vào tháng vừa qua nhạc sĩ Hoàng Thi Thao đã xuất hiện trong chương trình Ngụy Vũ Show của đài  truyền hình Little Saigon TV ở Quận Cam bênh vực nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, phủ nhận các cáo buộc trong các bài viết của ba tác giả nói ở trên.Trong cuộc phỏng vấn này, nhạc sĩ vĩ cầm một thời được báo chí Sài Gòn gọi là “thần đồng” cho rằng nếu Trịnh Công Sơn còn sống, sẽ không có những bài viết này, bởi “nếu có, sẽ rất quan trọng, nhưng tôi nghĩ là Trịnh Công Sơn sẽ không lên tiếng. Nhưng tôi nghĩ, nếu Trịnh Công Sơn còn sống, không ai dám viết như vậy”. 

 * * *Ngụy Vũ (NV): Xin chào anh Hoàng Thi Thao, sau 8 năm ra đi của Trịnh Công Sơn, gần đây, đặc biệt có ba bài viết gồm có của họa sĩ Trịnh Cung, ông Bằng Phong Đặng Văn Âu và ông Liên Thành đã cho thấy ngoài thiên tài âm nhạc Trịnh Công Sơn, người nhạc sĩ này còn có khuynh hướng thân cộng, hôm nay trong Ngụy Vũ Show, là một người thân tình với Trịnh Công Sơn, xin anh đánh giá ba bài viết nói trên, mặc dù biết là dư luận trái ngược nhau, riêng anh nghĩ vấn đề như thế nào?

Hoàng Thi Thao (HTT): Câu hỏi lớn quá, tôi xin tóm gọn lại thế này: Qua thời gian gần gũi với Trịnh Công Sơn (TCS) tôi thấy anh không có hoạt động gì về chính trị, hay có tham vọng về chức vụ gì khác, ngoài công việc sáng tác và vui chơi với bạn bè. Có đi ăn đi nhậu, ngồi nói chuyện tâm tình. Công việc duy nhất của TCS là sáng tác.

Lý do TCS phải sáng tác là vì đời sống bắt buộc như vậy. TCS muốn dùng và qua thi ca, âm nhạc để nói về giai nhân, tình yêu. Còn trong thời sự, TCS muốn nói lên sự tàn khốc của chiến tranh mà anh phản đối.

NV: Sau khi đọc bài viết của Trịnh Cung, sau 8 năm mất của TCS, anh cảm nhận thế nào?

HTT: Điều đầu tiên là tôi sửng sốt. Ngạc nhiên. Vì bảy năm trước đó, tôi còn nhớ hai cháu Vương Hương và Luân Vũ (cả hai là con của họa sĩ Trịnh Cung) đều thực hiện sinh hoạt tưởng niệm về TCS. Chính Trịnh Cung cũng tham gia các chương trình trong vai trò MC, cố vấn, đóng góp tư liệu, hậu thuẫn. Họ tổ chức liên tiếp mấy năm, vào đúng ngày 1 tháng 4 để tưởng nhớ TCS.

Tôi thấy đó là một tình bạn rất đẹp. Trịnh Cung đã dùng những mỹ từ đẹp nhất để nói về TCS. Hôm phát tang cho TCS ở hải ngoại, 1 tháng 4, 2001, tôi là người chở Trịnh Cung đến toà soạn báo Người Việt rồi sau đó là ở Seafood World để tưởng niệm khi TCS vừa nằm xuống. Có đông đảo văn nghệ sĩ tham dự, có cả Vương Hương và Luân Vũ.

Năm 2008, Vương Hương và Luân Vũ có tổ chức đêm nhạc TCS ở Don Wash Auditorium và bị biểu tình. Sau đó, chấm dứt các buổi tổ chức về TCS và xuất hiện bài viết của Trịnh Cung.

NV: Các hình thức này có tính thương mại hay nghệ thuật?

HTT: Dĩ nhiên là các chương trình tưởng niệm này ngoài giá trị nghệ thuật ra, có bán vé, tức là có tính thương mại. Nhóm The Friends của Vương Hương và Luân Vũ thực hiện.

NV: Theo anh, tại sao Trịnh Cung lại đổi tên mình thành họ Trịnh?

HTT: Sau này, theo tôi biết, năm 1968, TCS có cười cười nói với tôi trước khi tôi gặp Trịnh Cung từ trường Thủ Đức đến, là “nó tên Liễu, chút nữa sẽ gặp, không hiểu tại sao nó lấy bút hiệu là Trịnh Cung.” Chín TCS nói với tôi như vậy.

Một số anh em họa sĩ cho biết, trước khi ra Huế học mỹ thuật, Nguyễn Văn Liễu, đã đổi tên mình thành Trịnh Cung vì hình như mang một ơn nào đó với một gia đình ở Nha Trang. Không biết thực hư thế nào, nhưng một số anh em khác ở Huế thì cho rằng Nguyễn Văn Liễu thân với TCS, nên đổi tên thành Trịnh Cung.

NV: Theo anh, động cơ nào Trịnh Cung lại viết bài như vậy về TCS?

HTT: Tôi đoán thôi, không dám chắc. Tôi thấy rằng nhóm The Friends của Vương Hương và Luân Vũ sau khi chấm dứt vào năm 2008, thì tới năm 2009, có bài viết của Trịnh Cung về TCS.

NV: Theo anh, bài viết của Trịnh Cung về TCS, thì đúng, sai hay sự thật nó như thế nào?

HTT: Tôi thấy sai gần hết. Trịnh Cung có nói rằng vào ngày 30 tháng 4, 1975, khi TCS vào đài phát thanh, bị nhạc sĩ Tôn Thất Lập đuổi ra khỏi phòng, còn nói là TCS không có đủ tư cách để ở đó hát bài “Nối vòng tay lớn”. Sự kiện này sai hoàn toàn, vì Tôn Thất Lập lúc đó không có mặt ở Việt Nam.

Điều thứ hai, Trịnh Cung nói là đến nhà Đinh Cường gặp 3 người: Miên Đức Thắng, Trương Thìn và Đinh Cường nói là cấp giấy cho Trịnh Cung này kia là không có thật.

Ba ông này đâu có tư cách gì để mà quyết định cấp giấy cho ai. Lúc đó ba ông là người miền Nam, xanh mặt.

Còn nói là TCS có tham vọng chính trị hay quyền lực. Theo tôi, một người như TCS, trước năm 1975, là người không có chút xíu gì gọi là tham vọng. Ngoài chuyện viết nhạc, không hề có mơ màng trước bất cứ một vai trò gì. Một người chỉ có bằng tú tài I, tốt nghiệp trường Sư Phạm Qui Nhơn, chỉ có thể dạy được cấp tiểu học, thì làm sao có thể làm được chức Quốc Vụ Khanh.

Mặc dù ông Trịnh Cung là bạn thân, nhưng tôi là người sống trong gia đình TCS, nên tôi nghĩ là mình biết rõ hơn. Còn nói TCS là người ham phụ nữ đẹp, thích uống rượu, đối với tôi là chuyện bình thường, đàn ông mà.

NV: Trịnh Cung nhân danh là một người bạn thân nhất của TCS, tại sao lại hạ thấp bạn mình như vậy?

HTT: Vì khi TCS được coi là thần tượng, thì gia đình TCS xem đó là một niềm hãnh diện, vô tình sự hãnh diện này tạo áp lực khó chịu cho Trịnh Cung. Vì thế này, tất cả những người em của TCS đối với tôi là bạn, tôi xin nói rõ hơn là, tôi nhỏ hơn TCS, nên chỉ chơi với mấy người em của anh thôi, đó là vì Trịnh Cung không muốn các người em của TCS này hờ hững, vô ơn khi đối xử vớiTrịnh Cung. Hay chuyện TCS gặp gỡ Văn Cao, văn nghệ sĩ ở ngoài Bắc vô thấy họ tương đắc hơn, thì Trịnh Cung cảm thấy ra rìa.Cá nhân tôi, đối với TCS cũng là con nít, cũng ra rìa, tôi không xem thành vấn đề. Nhưng Trịnh Cung nghĩ mình là bạn chí thân, nên không chịu sự hờ hững này. Tôi đoán rằng, thái độ cư xử của mấy người em của TCS khi ông nằm xuống, phần nào đã khiến cho Trịnh Cung có bài viết về TCS như vậy.

NV: Qua tới bài viết thứ nhì, của ông Đặng Văn Âu thì sao?

HTT: Đặng Văn Âu cũng là một người bạn của TCS. Ông ta viết bài “Một thiên tài đồng lõa với tội ác”. Tôi không xa lạ gì với ông Đặng Văn Âu. Chúng tôi cùng ở trong Không Quân với nhau.

Hôm 29 tháng 4, 1975, tôi và ông Đặng Văn Âu đứng ngay thềm cửa nhà ông tướng Kỳ nhìn thấy sự hy sinh cuối cùng của chuyến phi vụ AC119 bay lên để tiêu diệt các ổ hoả tiễn 122 ly và bị một chiếc F-A7 bắn rơi. Tôi đã rơi nước mắt khi thấy cảnh này. Trong khi đó, ông Đặng Văn Âu nhảy lên một chiếc C130 bay qua đi Mỹ, để lại một vợ ba con. Đến nỗi mấy ngày sau, vợ con ông Âu phải tìm tôi để hỏi xem chồng bà ta ở đâu, tôi phải lánh mặt vì không biết phải trả lời sao.

Anh là một thiếu tá Không Quân, tại sao không ở lại bảo vệ đất nước, bảo vệ vợ con để chiến đấu với cộng sản, mà anh ta giao chuyện chiến đấu đó cho TCS? Ông Đặng Văn Âu nói TCS đồng loã với CS, vì đã không viết những bài hát để lên tiếng chỉ trích chính quyền CS, hay những tệ nạn xã hội v.v.

NV: Những điểm này của ông Đặng Văn Âu phê bình có đúng không?

HTT: Không sai, nhưng nếu ông Đặng Văn Âu đòi hỏi người khác làm những gì mình không làm, nhất là đòi hỏi TCS phải làm những gì quá sức, quá khả năng của ông là không đúng. Ông Âu không ở lại, giao phó chuyện đó cho người khác, rồi trách móc. Ông Âu hiện ở Texas, là một người quen với tôi, khá lâu, tôi vẫn qúi mến ông. Chúng tôi thỉnh thoảng vẫn cùng chở nhau tới nhà TCS.

NV: Trong ba bài viết của Trịnh Cung, Đặng Văn Âu và Liên Thành, bài nào sẽ tạo ra nhiều dư luận xấu nhất cho TCS?

HTT: Giữa ba người, ba bài viết, thì ông Liên Thành là người không thân với TCS. Liên Thành chỉ là một người bạn của em TCS, giống như tôi thôi, có thể nói xa cách hơn. Theo tôi, những gì ông Liên Thành viết về TCS đều sai 100%. Không có điều gì đúng. Không những sai, còn gây sốc trong gia đình.

NV: Xin anh cho biết một vài ví dụ của bài viết ông Liên Thành viết sai về TCS?

HTT: Như ông ta viết thân phụ của TCS làm cho phòng nhì Pháp là sai. Thân phụ TCS là Trịnh Xuân Thanh, một thương gia. Gia đình TCS là một người Việt gốc Minh Hương. Ông Liên Thành viết năm 1956, xe của lính Pháp dàn cảnh giết thân phụ TCS là sai. Vì lúc đó, 1956 đâu còn Pháp ở Việt Nam. Hay ông ta viết là Trịnh Cung tới nhà TCS rồi yêu em gái của nhạc sĩ là Vĩnh Thúy rồi xem TCS như anh rể là sai. Chúng tôi ai cũng biết Vĩnh Thúy, em gái lớn của TCS là người yêu của giáo sư Ngô Kha. Không có chuyện Trịnh Cung yêu Vĩnh Thúy. Tệ hơn hết, Liên Thành viết Trịnh Vĩnh Trinh, cô em gái út của TCS với nhạc sĩ chỉ là anh em cùng mẹ khác cha! Nói như vậy quá nặng nề và sai trái.Vì khi cụ thân sinh TCS mất năm 1956 vì tai nạn xe, máu từ trên đầu trôi xuống miệng, lúc đó, mẹ TCS đang mang bầu Trịnh Vĩnh Trinh đã phải dùng miệng hút máu từ miệng của chồng để mong cứu sống ông. Cả con đường Phan Bội Châu và Trần Hưng Đạo, ai cũng biết.Khi ông thân sắp chết, bà đang mang bầu Trịnh Vĩnh Trinh. Vậy mà Liên Thành đã viết là Trịnh Vĩnh Trinh không phải là em gái cùng cha cùng mẹ với TCS. Khi nhìn di ảnh của ông thân sinh TCS, đều thấy Trịnh Vĩnh Trinh giống bố như hai giọt nước.

NV: Động lực nào khiến ông Liên Thành viết như vậy?

HTT: Tôi không biết được. Tôi đoán là sau loạt bài viết về những biến động miền Trung, có thể ông Liên Thành thấy được dư luận chú ý, nên đã cường điệu, viết thêm về TCS.

Tôi thấy hình ảnh chung thế này: Ông Trịnh Cung mở một võ đài, xách tử thi TCS lên đấm đá, hai ông Đặng Văn Âu và ông Liên Thành bồi thêm mấy nhát, rồi tự đeo vòng hoa chiến thắng, ở dưới khán giả vỗ tay!

NV: Dư luận bên ngoài nghĩ sao về ba bài viết này?

HTT: Có hai ba dư luận khác nhau, những ai thân thiết, biết về TCS và gia đình của ông, đều thấy rằng vô lý, sai trái. Nhưng sự thật mà nói, ở hải ngoại, có một số người căm hờn cộng sản, tôi ghi nhận sự căm hờn này của họ, nhưng nếu cứ nói một người nào đó là cộng sản, thì lại vỗ tay reo hò, tôi thấy TCS là người sinh ra và lớn lên thừa hưởng dân chủ, tự do ở miền Nam, mới có tác phẩm đó cho chúng ta. Tại sao chúng ta cứ lần lượt đẩy nhân tài đó về phía chế độ cộng sản?

Sau 35 năm chiến tranh chấp dứt, tôi chưa thấy có tổ chức, đoàn thể, mặt trận nào của phía cộng sản nhận TCS là người của họ. Ở phía người miền Nam, cũng không có cơ quan nào nhận TCS là nhân viên của họ. Chỉ có ông Liên Thành nhận là người cấp giấy cho TCS làm mật báo viên. Chuyện này vô cùng tệ hại trong đời một người trưởng ty cảnh sát.

NV: Thưa anh Hoàng Thi Thao, anh có ý định lên nói vấn đề này từ lúc nào? Tại sao tới giờ này anh mới nói?

HTT: Khi bài Trịnh Cung viết ra, tôi nghĩ anh ấy cũng là một người thân của TCS cũng như với tôi, tôi nghĩ thôi bỏ qua. Nhưng phát pháo đó, đã tạo nên những bài viết sau này. Ông Đặng Văn Âu có hai bài viết về TCS. Ông Liên Thành tiếp tục mấy bài, thậm chí có bài nói về ông Đỗ Ngọc Yến, ông Liên Thành cũng lôi TCS vào, ông đem vấn đề Phật Giáo biến động miền Trung gán ghép cho TCS một cách sai trái.

TCS không dính dáng gì biến động miền Trung vì lúc đó TCS đang trình diện nhập ngũ ở Trung tâm I, chạy trốn lính trối chết. Cho tới cuối cùng, 1966, TCS quyết định bỏ Huế trốn lính, vào Saigon tá túc nhà Đinh Cường.

NV: Xin anh Hoàng Thi Thao nhận định đôi chút về TCS trong sự hiểu biết của anh?

HTT: Có nhiều người không biết, cứ cho TCS là thế này, thế kia, yếu đuối. Sự thật, lúc trai trẻ, TCS là một thể tháo gia. Và ông là người đàn ông bình thường, như mọi người đàn ông bình thường khác về mọi mặt. Ngoại trừ TCS có tài năng về âm nhạc, về cách dùng ngôn ngữ và văn chương.

Năm 1956 khi cụ thân sinh TCS mất, gia đình đông con, TCS lúc đó mới có hơn 16 tuổi, là anh cả trong nhà. Mẹ TCS là người không giỏi về thương trường. Vấn đề mưu sinh khó khăn. Kinh tế gia đình nghèo khủng khiếp, chỉ thiếu điều không có cơm mà ăn. TCS có khả năng, nhưng phải đi dạy sư phạm cấp tiểu học. Nguồn tiền sau này mà có, là tài sản âm nhạc của TCS.

Người em trai của TCS là Trịnh Xuân Tịnh, bạn thân của tôi là người lo phần ấn loát các nhạc của TCS, đóng thành tập để bán, kiếm tiền nuôi gia đình. Về con người TCS, ông rất nhát gan. Gặp con kiến, con sâu cũng không dám giết. Thấy con vật chết ngoài đường TCS phải né đi chỗ khác. Đối với bạn bè, ngồi với nhau, tôi chưa thấy ai than phiền về TCS. Ông TCS là người không hung bạo, không xúi giục, cổ động cho bạo lực, và điều này thể hiện rõ trong âm nhạc của ông. Nhạc TCS chỉ toàn là nhân tính, thiền, yêu thương con người.

NV: Là người trong thân trong gia đình, anh Hoàng Thi Thao cho biết nguyện ước cuối cùng của TCS là gì?

HTT: Thứ nhất, theo tôi biết thì khi sắp mất, TCS nói là ông tuyệt đối không muốn linh cữu của ông được đem tới số 81 Trần Quốc Thảo, văn phòng Hội Nhạc Sĩ Thành Phố, nơi ông sống và làm việc ở đây. Không biết vì mối thù nào mà ông đã trăn chối như vậy.

Điều thứ hai, TCS muốn được chôn gần ngôi mộ của thân mẫu mình ở Gò Dưa, chứ không phải ở Gò Dầu Hạ ở Tây Ninh như ông Liên Thành viết. Ngoài ra, không có chuyện gia đình TCS tranh đấu cho ông được nằm trong Nghĩa Trang Liệt Sĩ gì hết. Tin này hoàn toàn sai sự thật.Nguyện vọng nằm cạnh thân mẫu ở nghĩa trang Gò Dưa, miếng đất này thuộc quyền sở hữu của một bác tên là Tố, hiện ở Hoa Kỳ. Ông Đại tá Tố, nguyên là tỉnh trưởng Phú Yên-Tuy Hòa. May sao, con gái lớn của ông Tố là người tôi quen, nên tôi đã liên lạc được với ông Tố, và cuối cùng ông Tố quyết định nhường lại miếng đất theo nguyện vọng của TCS. Nói cho rõ, là ông Tố tặng không lấy đồng nào miếng đất đó. Tôi mừng quá, báo tin cho gia đình TCS biết để mai táng ông ở đó.

NV: Thưa anh Hoàng Thi Thao, khi những bài viết về TCS ra đời, gia đình của ông có những phản ứng gì?

HTT: Một số người có lên tiếng, nhưng không phải là số đông. Số đông thầm lặng là bạn hữu, thân nhân, những người tình của TCS và quần chúng rất đông. Quần chúng cả ở trong nước lẫn hải ngoại, nhưng rất tiếc là họ không có phương tiện để nói.Hôm nay, phải nói tôi rất can đảm để bênh vực cho TCS. Tôi biết khi tôi làm việc này, thế nào tôi cũng lãnh búa rìu dư luận. Tôi chấp nhận chuyện đó, bởi vì sự thật phải trả lại cho sự thật.

NV: Ngoài chuyện búa rìu dư luận, anh kỳ vọng ở người nghe những điều anh nói về TCS như thế nào?

HTT: Tôi tạm gọi là thay mặt những người yêu mến TCS, ngoài 7 người em trong gia đình TCS, thân thích, còn những người bạn thân xa gần để bênh vực cho TCS. Tôi phải “hy sinh” để ngồi đây với Ngụy Vũ (cười), đó là sự can đảm của tôi.

NV: Xem như anh xuất hiện công khai trước công chúng trên Little Saigon TV và được xem như là người đầu tiên dám làm chuyện bênh vực TCS ở hải ngoại. Giả sử, sau hôm nay, các lời chỉ trích, bài viết khác tiếp tục nói tới vấn đề này, anh có tiếp tục giữ quan điểm của mình để bênh vực TCS?

HTT: Tôi hy vọng sau cuộc nói chuyện của tôi, vấn đề này được chấm dứt tại đây. Bởi vì lâu nay không ai dám lên tiếng bảo vệ sự thật. Tôi chỉ nói bằng tấm lòng, không vì cái gì hết. Nhất là không vì gia đình TCS, mà chỉ vì sự thật. Tôi tin là chuyện này nên chấm dứt. Nhưng nếu tiếp tục, tôi sẽ tiếp tục lên tiếng bảo vệ TCS.

Nhân đây, tôi cũng xin mượn cơ hội này để đặt vấn đề với ông Liên Thành, theo nguyện vọng của một số đông sinh viên học sinh thời 1972, khi ông Liên Thành cho người đi bắt giáo sư Ngô Kha, chồng của Trịnh Vĩnh Thúy từ đó bị mất tích luôn cho tới nay.Gia đình ông Ngô Kha, tất cả học trò của ông ở Huế, có nhắn gửi và xin hỏi ông Liên Thành cho biết hiện nay, thân xác của ông Ngô Kha nằm, vùi ở đâu? Chết đã chết rồi, nhưng gia đình muốn biết nắm xương bị vùi ở đâu? Xin ông Liên Thành cho biết, không cần phải nói rõ chết thế nào, chỉ cần chỉ chỗ vùi xương ở đâu là được rồi, mặc dù biết là chết trong Ty cảnh sát Huế.

NV: Anh có nghĩ lời nhắn này sẽ tới tai ông Liên Thành?

HTT: Với xa lộ thông tin hiện nay, tôi nghĩ là sẽ tới tai ông Liên Thành. Không có điều gì đen tối mà không được phơi bày ra ánh sáng.

NV: Giả sử TCS còn sống, nếu có những bài viết này, thì TCS có xem đó là quan trọng không?

HTT: Tôi tin rằng khi TCS còn sống, sẽ không có những bài viết này. Tất nhiên là nếu có, sẽ rất quan trọng, nhưng tôi nghĩ là TCS sẽ không lên tiếng. Nhưng tôi nghĩ, nếu TCS còn sống, không ai dám viết như vậy.

Tôi nghĩ ba tác giả Trịnh Cung, Đặng Văn Âu, Liên Thành, nếu muốn viết tiếp về ai nữa, xin hãy viết lúc họ còn sống.

(Tháng Tám, 2009)

Bài 22.

CHÂU LA VIỆT TỨC HOÀNG THI HOÀI (Đ.15) *

     Nhà văn Châu La Việt tên thật là  Hoàng Thi Hoài  hoặc Lê Khánh Hoài sinh năm 1955 tại Hà Nội. Quê gốc Quảng Trị.

Là con trai đầu của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và ca sĩ NSƯT Trương Tân Nhân nữ danh ca nổi tiếng với bài hát Xa Khơi ngày đất nước còn chia cắt hai miền. Do hoàn cảnh của thời kỳ chiến tranh, từ nhỏ ông sống với mẹ và lấy tên khai sinh là Lê Khánh Hoài, lấy tên theo cha dượng là nhà báo – nhà hoạt động cách mạng Lê Khánh Căn (nguyên thư ký của đồng chí Tố Hữu). Năm 17 tuổi ông đã làm đơn nhập ngũ và trở thành lính văn nghệ thời chống Mỹ. Ông viết báo, viết văn và làm thơ với các bút danh: Triệu Phong, Trương Nguyên Việt và Châu La Việt. Mặc dầu vốn sống của ông rất phong phú, đa dạng nhưng trong hầu hết sáng tác của ông, hình ảnh người lính thời kháng chiến chống Mỹ vẫn là chủ đề được khắc hoạ sâu đậm nhất.

Sau chiến tranh trở về theo học khoa Ngữ văn tại Trường đại học Sư phạm Hà Nội I, sau đó vào làm trong ngành giáo dục ở Tây Nguyên vài ba năm. Sau này ông chuyên tâm vào báo chí, văn chương. Hiện tại, ông sống ở TP Hồ Chí Minh, viết báo, viết văn, làm thơ, sáng tác kịch bản văn học…

Bút danh khác: Lê Khánh Hoài, Trương Nguyên Việt, Triệu Phong, Châu La Việt.

  •  (Xin đừng nhầm lẩn với ông Hoàng Hữu Hoài (Đ15)-Kỹ sư Nông Lâm,chồng bà Bích Hà.)

Tác phẩm đã in:

Những bạn trẻ của tôi (NXB Quân đội)

– Chiếc khăn màu lửa cháy (NXB Trẻ TP Hồ Chí Minh)

– Ngọc Tân – ngày biển gọi (chủ biên, NXB Văn hoá – Thông tin)

– 5 bài thơ và 5 chuyện kể về người lính (NXB Lao động)

– Nơi không có mùa đông (NXB Lao động)

– Mai Pi Muôn (thơ, truyện, NXB Văn học)

– Chịm vẫn hót lảnh lót trong rừng

– Những tầng cây săng lẻ

– Ký sự Miền Nam

– Một buổi sáng nhiều chim

– Chim vẫn hót cút cu bên đồi

– Đất trời như vẫn vang hồi trống giục

– Tạm biệt chim én xưa (ký sự nghệ thuật) – Nxb Phụ Nữ

– Lửa vẫn cháy trên những tầng cây Săng Lẻ

– Những cánh buồm nâu

HhhoÀi

Hoàng Hữu Hoài gặp thân phụ là nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ lần đầu ở TPHCM

 Chaulaviet Chaulaviet1

Châu La Việt và chủ đề  sáng tác về người lính

 Châu La Việt:

 Mọi trang viết của tôi đều bắt đầu từ ánh sáng của trái tim mẹ

04/7/2023Gốc

Gặp gỡ nhà văn Châu La Việt nhân ba tập sách của ông ra mắt bạn đọc.

Sách Clv

Sách mới của CLV

PV: Chào văn Châu La Việt. Chúc mừng ông trong tháng 7 này ra liền ba đầu sách: “Tiếng đàn tuổi 20” ( NXB Quân đội), “Người chiến binh mang tên dòng sông” ( Thơ- NXB Văn học) và “Hoa ê miêng” ( NXB Quân đội). Nhiều bạn đọc và đồng nghiệp biểu dương sức sáng tạo nghệ thuật, cũng như sức viết của nhà văn.

Nhà văn Châu La Việt: Cảm ơn các bạn. Nhưng nói đúng hơn tôi chỉ là một người nhà quê chăm chỉ, cần mẫn trên cánh đồng văn chương…

PV: Xin nhà văn cho biết ba tập sách này, ông đã viết trong bối cảnh nào? Lúc nào?

Nhà văn Châu La Việt: Tháng 9 năm ngoái, tại Nhà sáng tác Cần Thơ, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phối hợp với Trung tâm Hỗ trợ sáng tác Văn học nghệ thuật (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức Trại sáng tác Văn học về đề tài “Lực lượng vũ trang – Chiến tranh cách mạng” năm 2022. Tôi cùng nhà văn Hoàng Dự – Tổng biên tập Thời báo Văn học nghệ thuật cùng một số nhà văn khác như Hà Đình Cẩn, Nguyễn Minh Ngọc, An Bình Minh, Chu Duy Sơn, Trần Văn Tuấn… được mời tham gia.

Các nhà văn tham gia Trại sáng tác Văn học về đề tài “Lực lượng vũ trang – Chiến tranh cách mạng” năm 2022.

Bản thảo hai tập sách “Tiếng đàn tuổi 20” viết về những văn nghệ sỹ – chiến sỹ trong những năm tháng chiến tranh và tập thơ “Người chiến binh mang tên dòng sông” được hoàn thiện trong những ngày tham gia trại. Ngay sau đó, cùng một số bản thảo khác của các anh chị tham gia trại, tập “Tiếng đàn tuổi 20” được NXB Quân đội ưu ái đưa vào xuất bản ngay. Còn tập thơ “Người chiến binh mang tên dòng sông” được xuất bản tại NXB Văn học để hướng về ngày kỷ niệm ngày thành lập quân đội tới đây.

Còn tập thứ ba của tôi – “Hoa Ê miêng” – là được sự ưu ái tài trợ của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cùng 14 bản thảo khác của các nhà văn, nhà nghiên cứu lý luận… do Thời báo Văn học nghệ thuật đề xuất để xuất bản hướng tới Kỷ niệm 75 năm thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam, nay là Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (25/07/1948 – 25/07/2023) tới đây.

Tập sách tập trung những chân dung các văn nghệ sỹ xuất sắc, có nhiều đóng góp cho nền nghệ thuật nước nhà, như các nhạc sỹ Đỗ Nhuận, Chu Minh, Quang Hải, Phạm Minh Tuấn, Nguyễn Tài Tuệ, Văn Dung, Ngọc Khuê… hay các nghệ sỹ NSND Lê Dung, nghệ sỹ NSND Quốc Hưng, NSND Kiều Ngân, NSƯT Nguyễn Hương Giang…

 

PV: Tôi nhớ mãi một Tiến sỹ Văn học viết về ông: “Châu La Việt đến với văn học nghệ thuật từ những năm tháng tuổi trẻ của “Thời hoa đỏ”. Anh là người lính, nhà văn giàu bút lực. Anh viết kịch, văn xuôi, làm thơ, lĩnh vực nào cũng xông xáo và gặt hái được thành công. Đó là những trang viết đậm chất lính, cái chất lính một cực thì rất dũng cảm, gan lì, chẳng nề gian khó, tả tơi trải qua những thử thách lửa đạn khốc liệt, chứng kiến tận mắt nhiều hy sinh mất mát của đồng đội, cực khác lại rất hào hoa, thậm tinh nghịch, thậm đa tình. Tôi và nhiều bạn đọc rất thích những trang anh viết về chân dung các nghệ sĩ như Tân Nhân, Nguyễn Tài Tuệ, Trần Hiếu, Trung Kiên, Lê Dung, Ngọc Tân, Quang Lý, Trần Tiến, Tất Bình, Trương Nhuận (Có lẽ anh là một trong những người viết hay, cảm động nhất về họ). Ngồn ngộn chi tiết đắt giá, bụi bặm và lộng lẫy lung linh, vất vưởng và sang trọng. Ào ạt và ăm ắp những cảm xúc thăng hoa. Nghèn nghẹn nước mắt. Chan chứa tình người. Đó là những trang viết như nhà văn Đỗ Chu đã dặn anh: “Hãy viết như mẹ anh từng đã hát. Ngậm từng chữ, nhả từng câu, đau như lòng tằm và quý phái như tấm lụa tơ tằm. Say mê tột cùng và thương nhớ cũng tôt cùng”.

Nhà văn Châu La Việt: Rất cảm ơn các bạn đã làm tôi thêm nhớ Mẹ tôi. Thật sự mọi trang viết của tôi, kể cả ba tập sách vừa xuất bản, cũng bắt đầu từ ánh sáng của trái tim mẹ tôi.

Nhân cuộc trao đổi này, nhà báo cho tôi gửi lời cảm ơn tới NXB Quân đội, 10 năm qua đã liên tục mời tôi đi các trại viết của nhà xuấn bản, và cũng đã in và phát hành đến tận tay người chiến sỹ trong quân đội cũng như các cựu chiến binh 10 tập sách, của tôi, bao gồm tiểu thuyết, thơ, trường ca, truyện ngắn…

Cũng xin cảm ơn Thời báo Văn học nghệ thuật và Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã tài trợ để có một tủ sách rất ý nghĩa để Kỷ niệm 75 năm thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam, nay là Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (25/07/1948 – 25/07/2023)…

Quang Minh  – (Báo Mới thực hiện)

 

Bài 23

HAI QUYỂN SÁCH MỚI CỦA

Châu La Việt – Hoàng Thi Hoài 

VỀ

NHẠC SĨ HOÀNG THI THƠ 


CA SĨ TÂN NHÂN 

Vừa qua, nhà văn Châu La Việt  (Hoàng Thi Hoài – Đ.15) đã cho xuất bản hai quyển sách viết về song thân của mình là nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và ca sĩ Tân Nhân – (Nxb Văn Học)

Sách sẽ được giới thiệu với bà con sau khi ông Châu La Việt từ Hà Nội vào TP.HCM.

TIN VUI 

Nhà văn CHÂU LA VIỆT có nhã ý tặng 100 quyển Nhạc sĩ HOÀNG THI THƠ Rước tình về với quê hương cho một số bà con nội ngoại họ Hoàng ở trong nước.

Vậy bà con nào có nhu cầu, xin liên hệ trực tiếp với nhà văn Châu La Việt qua địa chỉ:

 Ô.CHÂU LA VIỆT
ĐT : 01228.668.999
Email: 
chaulaviet@gmail.com

 

Hai quyển sách mới của Châu La Việt

ChulaviỆt

CHÂU LA VIỆT về làng Bích khê.

Bài 24

Nghệ sĩ Ưu tú 

TRƯƠNG TÂN NHÂN

Ca Si Tan Nhan

NSUT TÂN NHÂN

Tiểu sử

Ca sĩ – Nghệ sĩ ưu tú TRƯƠNG TÂN NHÂN sinh ngày 15-7-1932 tại Huế. Mất ngày 14-2-2008 tại bệnh viện 115 – Tp.HCM. Chánh quán làng Mai Xá, xã Gio Mai, huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị. Tiểu sử và sự nghiệp của bà được ghi trên Wikipedia khá đầy đủ nhưng có một câu rất sai như sau: “…Cha bà là ông đốc Hy, mẹ là con gái trong một gia tộc họ Hoàng”… Xin đính chínhthân sinh của bà không phải là ông đốc Hy – ( tức bác sĩ Phan Văn Hy, một nhân vật nổi tiếng ở Quảng Trị) – mà là ông Trương Công Hy, một doanh nhân đứng đầu hãng vận tải đường bộ và công ty mễ cốc lấy tên là Trương Công Huynh Đệ. Thân mẫu của bà là Trương Thị Cương, cháu ngoại chứ không phải con gái họ Hoàng. Lại cũng xin lưu ý, ở làng Mai Xá có hai họ Trương khác nhau. Chỉ họ Trương của bà Trương Thị Cương có quan hệ thông gia với họ Hoàng. Bà Trương Thị Cương là con gái của ông Trương Quang Dự và bà Hoàng Thị Đường – Đ15.( Bà Hoàng Thị Đường là trưởng nữ của ngài Hoàng giáp Hoàng Hữu Bính- Đ14). Như thế bà Trương Tân Nhân là cháu ngoại Đ17 của họ Hoàng Bích Khê.

Trước khi thoát ly tham gia các mạng, bà theo học trường Đồng Khánh, Huế. Năm 1949, bà tham gia vào Đoàn Văn công Quân đội mặt trận Bình Trị Thiên và Trung Lào. Năm 1954, bà là diễn viên đơn ca tại Đoàn Ca múa Nhân dân Trung ương. Năm 1963, bà theo học khoa Thanh nhạc Trường Âm nhạc Việt Nam và tốt nghiệp năm 1968. Từ năm 1969 đến năm 1972, bà tu nghiệp tại Nhạc viện Sofia, Bulgaria. Về nước năm 1973, bà làm việc tại Đài Phát thanh Giải phóng, rồi Đài Tiếng nói Việt Nam. Bà là ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa II. Bà còn tham gia công tác đào tạo diễn viên cho Lào, xây dựng dàn hợp xướng cho các đội hợp xướng thiếu nhi ở Thủ đô Hà Nội.

Nghệ sĩ Tân Nhân có một giọng nữ cao trữ tình, đậm chất miền Trung. Bà thành công với nhiều ca khúc dân ca và trữ tình cách mạng như Xa khơi (Nguyễn Tài Tuệ), Tát nước đêm trăng, Nắng Ba Đình, Tình quê, Ru con (dân ca Nam Bộ), Tình quê hương (Trọng Bằng), Anh về miền Bắc, Chim Pongkle(Nhật Lai), Lăm tơi, Bên nôi con mẹ hát (Lê Lôi), Câu hò bên bờ Hiền Lương (Hoàng Hiệp – thơ Đăng Giao), Nhớ… và một số ca khúc nước ngoài. Đặc biệt với Xa khơi, được thu âm vào thập niên 1960, bà được đánh giá là người thể hiện thành công nhất ca khúc này, và đây cũng là một ca khúc gắn liền với tên tuổi của bà.

TrươngTân Nhân đã được trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất và danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú (1988).

HOÀNG THỊ TƯƠNG NHƯ.

Một số ca khúc được ưa thích nhất của TÂN NHÂN

 CÂU HÒ BÊN BỜ HIẾN LƯƠNG – Thơ: Đăng Giao – Nhạc: Hoàng Hiệp
Download Embed 

XA KHƠI – Nhạc và lời: Nguyễn Tài Tuệ
Download Embed 

RU CON – Dân ca Nam bộ – Lời: Xuân Giao
Download Embed 

 NGHỆ SĨ ƯU TÚ TÂN NHÂN
NÓI VỀ CA KHÚC  “XA KHƠI”
_____________________________________

Từ ngày làm diễn viên đơn ca chuyên nghiệp, tôi đã được hoan nghênh với nhiều bài: “Nắng Ba Đình”, “Tát nước đêm trăng”, “Tình quê”, “Ru con Nam bộ”, “Tình quê hương”, “Anh về miền bắc”, “Chim Pông Kler”, “Lăm tơi” và một số bài hát nước ngoài, đã được thu đĩa: “Tình quê”; “Bên nôi con mẹ hát”; “Câu hò bên bờ Hiền Lương”; “Ru con”; “Nhớ” và “Xa khơi”.

“Xa khơi” là ca khúc nổi danh của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ viết về đề tài Bắc -Nam thời đất nước còn phân đôi. Nhân một chuyến công tác về vùng biển cùng Đoàn ca múa Trung ương, tôi chuyên hát dân ca nên được phân hát “Xa khơi”. Thật thú vị vì biển là quê tôi, đứng bên bờ Bắc nhìn về bờ Nam còn thấy ngọn thông làng Mai Xá của tôi. Nơi ấy có nhà tôi, bà con ruột thịt của tôi đã mười lăm năm xa cách, thương nhớ. Nơi ấy là cha mẹ tôi, các em nhỏ của tôi mà khi tôi lên rừng theo cách mạng, có đứa còn chưa ra đời.

Bước ra sân khấu là như tắm trong nắng chiều của biển, với mặt biển lung linh, những đám mây bay vớn, có khi che mặt biển thành tím ngát… Tất cả sống động, những ký ức tuổi thơ trỗi dậy khiến tim tôi rung lên, từng đường gân thớ thịt chan hòa theo tiếng hát.

“Nắng tỏa chiều nay…” Giờ này mẹ cầm cào trở lúa lần cuối trên sân, giờ mọi người làm đồng về, ăn xong bữa xế lại tiếp tục công việc vội vàng trước khi nắng tắt.

Người con gái chèo thuyền êm nhẹ lướt ra khơi, giọng hò lan trên mặt nước. Buổi chiều chim bay về tổ, khói bếp vờn tỏa trên mái nhà, những bước chân hối hả tìm về mái ấm.

Xót xa thay trong buổi chiều êm ả ấy, “con chuồn con nục gọi bạn đường khơi” thì còn biết bao trái tim khao khát yên vui hạnh phúc trên đất nước Việt Nam lại phải xa cách, chia ly…

Hoàng My – nghệ sĩ piano – đã nâng cho trí tưởng tượng và cảm xúc tôi bay bổng. Tôi mơ ước cả ba chúng tôi: nhạc sĩ Tài Tuệ, người đệm đàn Hoàng My và người hát Tân Nhân như cùng hòa chung tiếng đàn giọng hát cho ngày mai đẹp đẽ, không xa sẽ đến.

“Biển dập dìu… Biển chung tình… Biển nói lên lời thương nhớ, biển ơi!”. Tim tôi thổn thức, tiếng hát tôi vút lên với cả sự dào dạt của tâm hồn, tình thương nhớ nhiều năm tích tụ và sức mạnh của tuổi thanh xuân. Cảm ơn nhạc sĩ, cảm ơn các nhạc công…

Đã bốn mươi bốn năm trôi qua, “Xa khơi” còn tươi rói với tình cảm của các nghệ sĩ. Nhiều thính giả nhắc nhớ “Xa khơi” – Tân Nhân. “Xa khơi” còn sống mãi với lời ca ngợi thiên nhiên, Tổ quốc và lòng chung thuỷ của con người Việt Nam. “Xa khơi” là niềm vui sướng và tự hào của tôi.

TrƯƠng TÂn NhÂn I

  TRƯƠNG TÂN NHÂN QUA CÁC THỜI KỲ HOẠT DỘNG

trích hồi ký của NSƯT Tân Nhân)

Ca sĩ – Nghệ sĩ ưu tú Tân Nhân: 
Giọng ca ấy đã “Xa khơi”

Vũ Ân Thi
(Báo SGGP-Thứ sáu, 15/02/2008, 02:16 (GMT+7)

 

     *14 giờ 17 phút ngày 14-2-2008, nhà báo Nguyễn Khắc Văn báo tin: ca sĩ Tân Nhân đã qua đời!Cách nay không lâu, Văn đã nói với chúng tôi là nên đặt bài viết về ca sĩ Tân Nhân để động viên chị trong cơn bạo bệnh. Chúng tôi biết đó không chỉ là tình đồng hương Quảng Trị thường tình mà còn là tình cảm của khán giả trẻ đối với một ca sĩ lừng danh một thời.

Trước tết, nhà báo Triệu Phong – Trương Nguyên Việt (tức nhà thơ Châu La Việt) từ Hollywood điện thoại về kể chuyện làm phim ở Mỹ và băn khoăn: mẹ anh (tức ca sĩ Tân Nhân) yếu lắm?!

ậy rồi ca sĩ Tân Nhân cũng vui tết với con cháu và khi hết tết, chị đã “Xa khơi”.

Cách nay gần 2 năm, Báo SGGP có đăng trên ký của nhà văn Phạm Ngọc Cảnh viết về người ca sĩ xinh đẹp, hát hay, diễn kịch giỏi của Văn công Liên khu IV (gồm các tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình, Trị, Thiên) thời chống Pháp. Truyện ký của Phạm Ngọc Cảnh có chất huyền thoại, giai thoại, giàu chất truyện phim về một ca sĩ “Sắc đành đòi một, tài đành họa hai” (Nguyễn Du) Tân Nhân. Truyện ký của Phạm Ngọc Cảnh được phản hồi nhiều, chứng tỏ Tân Nhân có sức thu hút mạnh mẽ và sức lôi cuốn, nhớ lâu của nhiều người.

Chúng tôi có 2 cái may mắn.

May mắn thứ nhất là thuở nhỏ tản cư vào Nghệ Tĩnh và quen biết nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ. Vào khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp, chúng tôi được học giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, anh ruột của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ. Những lần gặp nhạc sĩ, chúng tôi nghe ông tâm sự rằng: ai hát sáng tác của ông, ông cũng quý, nhưng với “Xa khơi” thì chưa ai qua được Tân Nhân. Bởi Tân Nhân hát “Xa khơi” có hồn, có nội tâm, có cái chung và cái riêng… nghĩa là có tâm sự, có nỗi lòng. Hiện nay, trong nhiều ca sĩ hát thành công “Xa khơi” phải kể đến ca sĩ Anh Thơ. Anh Thơ cho biết khi được biểu diễn “Xa khơi” cô đều đến tham khảo ý kiến nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ và nghe thật kỹ băng ghi âm Tân Nhân hát “Xa khơi”. Lại có một nhạc sĩ sau gần 40 năm “Xa khơi” ra đời đã xin phép nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ, dùng giai điệu của “Xa khơi” để sáng tác ca khúc mới “Khơi xa”. Và chính nhạc sĩ này cũng ao ước nếu ca sĩ Tân Nhân đồng ý, ông sẽ mời Tân Nhân hát.

Cái may mắn thứ 2 là lính Văn nghệ của nhà báo Lê Khánh Căn (chồng của ca sĩ Tân Nhân) khi ông phụ trách Phòng Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam (cơ sở 2, tại TPHCM) và chơi thân với con của ca sĩ Tân Nhân. Được trò chuyện với chị, chúng tôi thấy ở chị một vẻ đẹp “thâm trầm sâu lắng lạ” (thơ Đỗ Thị Thanh Bình, nhạc Trương Tuyết Mai). Chị khiêm nhường, giản dị. Chị thường nói: mình gặp may là có “Xa khơi” của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ. Và chị ít xuất hiện, báo chí cũng không nói về chị nhiều, cho dù thế hệ người Việt Nam của thời kỳ chiến tranh chống Mỹ giành tự do, độc lập, hòa bình và thống nhất đất nước, không ai không nhớ có một ca sĩ Tân Nhân của bài hát “Xa khơi”.

“Xa khơi” của Nguyễn Tài Tuệ là một trong những bài hát hay nhất và Tân Nhân là ca sĩ thể hiện thành công nhất, hát hay nhất bài hát này!

Ca sĩ Tân Nhân quê ở huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, là nữ sinh Đồng Khánh (Huế), con nhà quan lại, trí thức và xinh đẹp. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Tân Nhân tham gia kháng chiến. Tân Nhân là một người đẹp nổi tiếng của Văn công Liên khu IV cũ.

Một đời ca sĩ, hát tuyệt vời một bài hát hay nhất, đã sống và vẫn sống trong lòng công chúng. Nắng tỏa chiều nay, chiều tỏa nắng đôi bờ”…. “Ôi mênh mông sóng xô, xô thuyền ta xa bờ“… Ca sĩ Tân Nhân đã“Xa khơi”, một giọng ca vàng của âm nhạc Việt Nam đã “Xa khơi”…

                                                                                                                                                                                         VŨ ÂN THI

 

 

Thơ

Bài 25.

HOÀNG NGỌC BIÊN

NGƯỜI LẬP DỊ TÀI HOA

 HOÀNG NGỌC BIÊN ( trẻ và già)

Lys TRANG HẠ giới thiệu

      Cho đến nay, trong họ Hoàng không mấy người biết gì nhiều về Hoàng Ngọc Biên ngoài một cái tên thường gọi là SIM. (đây là cây Sim trên rừng.Xin các bạn trẻ đừng đọc giống cái thẻ Sim trong điện thoại di động).Ai không biết thì cứ tạm hiểu như thế.Còn những ai đã hiểu thì sẽ nhận ra ở ông là một tài năng  đột xuất có tầm vóc của một văn nghệ sĩ lớn trong đời sống văn hóa của Miền Nam Việt Nam trước năm 1975.Giống Hoàng Hữu Chỉ (Đ16),ông sáng tác trong cá bốn lãnh vực Văn,Thơ,Hội họa và Âm nhạc.Nhưng Hoàng Ngọc Biên  (Đ17) may mắn,có điều kiện phát huy và tiến xa hơn. Hồi còn đi học, Hoàng Ngọc Biên là một chàng bạch diện thư sinh, cốt cách tao nhã. Vào thập niên 80 của thế kỷ trước, cái dáng dấp thư sinh ấy đã được rũ sạch để chuyển  hóa thành một dạng “quái kiệt”. râu tóc xồm xoàm, áo quần bụi bặm ngó như ông  Rô Bin Sơn trên “hoang đảo Sài gòn” hay ông Chêghêvara bên châu Mỹ la tinh. Nhưng Chê có đôi mắt mang hình viên đạn còn Biên thường đối diện với người quen bằng một nụ cười có vẻ thân thiện và những ánh mắt có vẻ diễu cợt. Cái gì cũng “có vẻ”. Thế còn đâu là cái thiệt?

Đó là nhà văn,nhà thơ thứ thiệt – -dịch giả thứ thiệt-họa sĩ tranh thủy mạc, tranh sơn dầu, tranh kỹ thuật số, đồ họa cũng đều là thứ thiệt. Trong giới làm sách báo người ta biết ông là một chuyên viên thiết kế có đẳng cấp, biết thể hiện hài  trên hài hòa trên trang bìa cái đẹp và chất trí tuệ của các trường phái mỹ thuật hiện đại. Ông từng là cọng tác viên mỹ thuật, kỹ thuật sáng giá của các báo Thanh Niên,Tuyến Đầu,Kiến Thức Ngày Nay, Điện Ảnh Thành Phố,Thế Giới Mới…ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ đổi mới, một số tờ báo của Trung Ương cũng mời ông ra Hà Nội để góp ý cải tiến về hình thức cho phù hợp với thị hiếu của bạn đọc. Ông còn là một nhạc sĩ sáng tác ca khúc-không nhiều lắm nhưng không nghiệp dư chút nào.

Ông không có vẻ lập dị mà là lập dị thứ thiệt. Lập dị trong cái nghĩa: ông luôn giữ một khoảng cách vừa phải với mọi người và với mọi chế độ chính trị- Ít xuất hiện giữa những đám đông ồn ào-Tự dấu mình trong những không gian riêng-Tự hiểu giá trị  và ý nghĩa của những việc mình làm bất cần sự đánh giá của người khác. Tuy vậy, ông không phải là dạng trí thức vô chính phủ, phi chính kiến. Trước năm 1975, ông cùng một số trí thức Thiên chúa giáo yêu nước tiến bộ và thiên tả như nhà văn Diễm Châu, nhà văn Thế Nguyên chủ trương nhóm Trình Bày và nhà xuất bản Trình Bày ở Sài gòn. Với ông cái dấu ấn của Trình bày có lẽ không hề phai mờ. Nó vẫn còn mãi ít ra là trong cái địa chỉ E.Mail  của ông hiện nay. Những năm cuối đời ông cùng gia đình sang địch cư ở Mỹ, cố gắng tiếp tục dựng lại hình ảnh nhóm Trình Bày. Ở tuổi thất thập cổ lai hy, hình như mọi tư duy chính trị, tư duy văn nghệ của ông dần dần nhuốm mùi triết lý.

Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu vài nét chấm phá trong sự nghiệp sáng tác của ông – dĩ nhiên có đủ phong vị của văn, thơ, hội họa và âm nhạc. Sự nghiệp ấy cũng cần được xem là một phần trong gia tài văn hóa của họ Hoàng Bích Khê chúng ta.

TIỂU SỬ – TÁC PHẨM

Sinh 1938, Quảng Trị. Đọc sách, vẽ, viết văn. Dạy học, làm xuất bản, đồ họa & trong Ban biên tập tạp chí Trình bầy (1961-1975), phụ trách mỹ thuật cho các báo và nhà xuất bản ở Việt Nam (1975-1991) và tuần báo The Salt Lake City Weekly ở Mỹ (1993-2004). Trước 1975 từng triển lãm tranh, Viện Đại học Dalat, Gœthe Institut, Alliance Française, Hội Họa sĩ Trẻ VN, Phòng Thông tin & Báo chí SG, Trung tâm Văn hóa Vũng Tàu, La Dolce Vita (Hotel Continental); và đồ họa, Nxb. McGraw-Hill, Singapore, 1972.

Đã xuất bản: MƯỜI NHÀ VĂN PHÁP HIỆN ĐẠI, Trình bầy, 1969; ĐÊM NGỦ Ở TỈNH, tập truyện ngắn, Cảo Thơm, Saigon, 1970; MARCEL PROUST – CON NGƯỜI XÃ HỘI, Trình bầy, 1974; Andrei Sinyavski: Thơ Pasternak, trong BORIS PASTERNAK, CON NGƯỜI VÀ TÁC PHẨM, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1988. TĨNH VẬT VÀ NHỮNG BÀI THƠ KHÁC, thơ Joseph Brodsky, Thuận Hóa, Huế, 1991; MỐI TÌNH ĐẦU, truyện Samuel Beckett, Trình bầy, 1993. THƠ MỚI BA LAN, tuyển tập thơ mới Ba lan, Trình bầy, 1993. MARCEL PROUST, tiểu luận Samuel Beckett, Trình bầy, 1995. UỐNG TRÀ SỚM MAI, thơ, Trình bầy, 1996. NGƯỜI ĐẠP XE VÀO THÀNH PHỐ BUỔI SÁNG, truyện, Trình bầy, 1997. CHUYẾN XE, truyện, Trình bầy, 1997. ĐẤT VÀ NGƯỜI VÀ THẦN THOẠI VIỆT NAM, thơ, Trình bầy, 1997. BIỂN NGÀY ĐÊM, thơ, Trình bầy, 1999. THƯ HÀ NỘI, của Jean Tardieu [dịch chung với Nguyễn Thu Hồng], Trình bầy, 2001. QUÊ HƯƠNG, NGƯỜI VỀ [hai đoản văn viết theo một tấm tranh dán của Nguyễn Đăng Thường], Trình bầy, 2001. CHUYẾN ĐI MÙA ĐÔNG, truyện Georges Perec, Trình bầy, 2003. CHÂN MÂY CUỐI TRỜI, thơ [in chung với thơ Đỗ Trung Quân và tranh Nguyễn Quỳnh], Trình bầy, 2003. DJINN, truyện Alain Robbe-Grillet, Trình bầy, 2003.

HNB – VĂN

NGƯỜI KHÁNG CHIẾN

Van Hnb

Ông bà HOÀNG NGỌC VIÊN-song thân của Hoàng Ngọc Biên

 

    Viết về cha tôi, thật khó lấy một cái mốc để bắt đầu. Là công chức, là cán bộ, rồi công chức trở lại, trước khi trở thành tư chức, đời cha không thầm lặng, không trầm lắng như những từ hiền lành ấy thường dễ gợi cho ta. Là thư ký tòa sứ tỉnh Quảng trị, khoảng hăm bốn hăm lăm tuổi cha đánh sếp Tây của mình, nghe nói đánh đến chảy máu miệng; đứng đầu ngành thuế vụ thời Việt Minh ở thành phố biển Tourane, vì sáng sớm ngày toàn quốc kháng chiến cha đã phải hối hả đẩy mẹ con chúng tôi lên xe lửa về quê không kịp mua vé tàu, nên một ngày đẹp trời có thể không còn chịu nổi cảnh mất liên lạc gia đình, cũng có thể đơn giản là cha nhớ mẹ con chúng tôi, hay tiếc những buổi sáng cùng gia đình quây quần ăn sáng dưới ngọn đèn vàng ấm áp ở tầng lầu một (chỉ bước xuống chiếc cầu thang chữ U vuông bằng gỗ quí là đã có thể ngồi chễm chệ trong văn phòng!), hay đơn giản hơn là có thể chỉ vì nhớ một mình mẹ tôi thôi (mẹ thời ấy đã sinh sáu lần, giữ được năm) bởi lẽ mẹ đẹp vô cùng, cha thản nhiên bước ra khỏi phòng làm việc và tôi không nhớ có nghe cha nói bằng con đường nào cha đã vượt gần hai trăm cây số, trong hoàn cảnh giao thông khó khăn, hay gần như không có phương tiện giao thông nào, và về tới tận cái làng hẻo lánh ven biển không phải là làng chúng tôi, mà là làng chúng tôi được phép tản cư đến, để tìm gặp mẹ con chúng tôi – gặp một đêm, chỉ một đêm. Về một đêm này, chắc tôi sẽ không quên trở lại, nếu như lần nầy đây tôi có thể đi tới cùng cái thử thách viết về cha vẫn ấp ủ từ mấy chục năm nay, và mỗi lần thử bắt đầu, cũng do cái mốc phân vân muốn chọn lựa mà không chọn lựa nổi nói trên, chưa bao giờ tôi đi quá năm trang giấy.

    Khi tôi ra đời, cha tôi đã là một người lớn. Sau này quan sát cha dạy dỗ chăm sóc các em tôi, các em đợt hai, tôi thường nghĩ có lẽ thời còn bé cha đã dạy tôi đủ điều. Nhưng tôi lầm. Tôi không nghi ngờ gì cả về việc cha có thương chúng tôi hay không, bởi vì hình như cha rất nổi tiếng về chuyện thương con, nhưng như lời mẹ tôi kể, thời ấy cha phó thác mọi việc cho các chị vú và người giúp việc (cũng sau này tôi được biết vú của tôi là một trang khuynh nước khuynh thành), thậm chí cha còn muốn cả mẹ cũng chỉ nên đứng bên cạnh để ngó mà thôi! Cha đi làm ở công sở, cuối tuần cha hớn hở trải khăn trắng lên cái bàn vuông ở phòng khách, đặt lên đó một bộ bài tây, bảo mẹ chuẩn bị trà và cà phê bánh ngọt, rồi sẵn sàng ngồi chờ bạn bè… Mẹ bảo cha không phải là khó tính lắm, nhưng khi chúng tôi chỉ ấm đầu một chút thôi, chứ chưa phải là sổ mũi, cha có thể mất hết bình tĩnh, bắt đầu canh chừng những người ăn ở trong nhà, đi lui đi tới, và… khịt mũi. Thế nhưng không phải cha hoàn toàn không gần gũi chúng tôi: cha thường thích đặt người xuống ngay giữa chiếc giường rộng, để nằm một bên là chị tôi, chị cả, một bên là tôi, ngó qua bên này, rồi ngó qua bên kia, và sáng tác một câu mà mãi đến khi tôi đã gần đến tuổi bảy mươi thỉnh thoảng trong nhà vẫn nhắc mãi: ngó qua con D thì tội thằng S, ngó qua thằng S thì tội con D. Câu nói có vẻ là nói đùa, có khi nghe như thơ, hay như một câu vè, tùy người nghe, nhưng với tôi dấu ấn của nó đậm đến nỗi mãi về sau, khi chính tôi có nhiều anh chị em trong nhà, rồi lớn lên nữa có nhiều bạn bè, rồi con cái, tôi vẫn cứ nghiêm chỉnh có cái suy nghĩ tương tự – về một thứ công bằng trong cuộc sống, ngay cả trong một số hoàn cảnh sự công bằng ít ai đặt ra.

Mẹ tôi rất đẹp, chữ nghĩa mộc mạc của tôi không làm sao tả ra hết được, nên tôi phải xin khất lại về sau, nếu như lần nầy đây tôi có thể đi tới cùng cái thử thách viết về cha vẫn ấp ủ từ mấy chục năm nay, và mỗi lần thử bắt đầu, cũng do cái mốc phân vân muốn chọn lựa mà không chọn lựa nổi, chưa bao giờ tôi đi quá năm trang, và tìm cho ra mỗi năm trang kia trong cái mớ ngổn ngang giấy má nằm đâu đó trong phòng làm việc của tôi là điều sức khoẻ tôi hiện nay không cho phép. Còn cha? Cha nước da ngăm, khuôn mặt không bảnh trai, mắt hơi hiếng, cái hiếng những lúc cha giận dữ thì trông xấu, nhưng những lúc cha vui vẻ thì, nói khách quan, nó tự ghép chung với một chiếc răng khểnh nằm đâu đó tôi không còn nhớ chính xác vị trí, để đặt lên khuôn mặt không bảnh trai ấy một vẻ thu hút lạ lùng, tựa như thiếu cái chút hiếng và cái răng khểnh kia thì khuôn mặt – và cả những điều nói ra – chưa tới. Có người cho rằng vì chỗ khác biệt đó, cha mẹ tôi không cân đối. Tôi có cái suy nghĩ khác mà tôi cho là chính xác và văn học hơn: cha và mẹ tôi là một kết hợp đẹp đẽ giữa thần và sắc.

    Cuộc hôn nhân của cha mẹ tôi trôi chảy, bởi vì đây là một cuộc hôn nhân sắp xếp: thời ấy con gái một vị bác sĩ tây y nổi tiếng trong tỉnh về với con trai của một vị quan nhỏ trong triều, xuất thân từ một gia đình khoa bảng đã sản sinh ra những hoàng giáp nổi tiếng cả nước, đông tây gặp nhau, đâu thể có cái gì đẹp hơn? Như thế, cha mẹ tôi biết nhau, rồi gặp nhau, nói chuyện với nhau, nhất nhất đều do sắp xếp của hai bên, có thể dưới cả sự giám sát chắc hẳn không cần phải kín đáo hay ngụy trang của hai bà mẹ, và mọi thứ như thế cũng có lẽ đã khởi đầu trên chiếc chiếu bốn người ngồi của những buổi tứ sắc? Tôi không thể nào chắc chắn. Khi tôi đã lớn, trong nhà anh chị em không những có đợt một, mà còn có một phần của đợt hai, thỉnh thoảng trong những bữa cơm tối, ai nấy có quyền thong thả kéo dài những giây phút ấm cúng hiếm hoi trong đời sống hàng ngày bấy giờ đã bắt đầu trở nên gay go do những biến động xã hội, chiến tranh từ xa và có khi chiến tranh ngay cả trong thành phố, cha tôi hơn một lần thân mật nhắc lại một chi tiết trong quá khứ của cha và mẹ, nói với chúng tôi rằng lần đầu cha gặp mẹ, mẹ đang nhảy dây với các chị em của mẹ, hay bạn bè gì đó. Mẹ có nhiều hình đen trắng hoặc màu sepia chụp thời mới lấy chồng, nhưng những hình đó không giúp tí nào cho anh chị em chúng tôi trong việc tưởng tượng cái cô con gái nhỏ nhắn hiền lành, tóc vấn cao có rẽ đường ngôi một bên kia, đẹp hơn cả một đóa hoa, lại có thể đã là một bà vợ, và bà vợ ấy, không lâu trước đó, vẫn còn nhảy dây với chị em, với bạn bè… Những giai thoại về cha mẹ tôi thường không được kể lại, hoặc làm sống lại đầy đủ: những mảnh rời trong cuộc đời trải qua đủ các thời lịch sử giông bão khác nhau của một đôi vợ chồng bình thường, với những nỗi lo bình thường, khởi đầu tựa như hai thanh thiếu niên đầu hôm sớm mai bỗng thấy mình không còn ở cái chỗ xưa nay vẫn ở, với những người thân xưa nay, hàng ngày, vẫn gặp ra vào, từ những họ hàng bà con thân sơ thường lui tới, mãi từ những mảnh đất xa xôi trong nam ngoài bắc, cho đến những người khăn gói từ những vùng quê lân cận… Đầu hôm sớm mai, mọi chuyện đều khác, ra vào trong nhà, chỉ có hai người. Chỉ có hai người phải làm đầy, và phải hít đầy không khí của cả một căn nhà. Cha đi làm ở tòa sứ, ngày tám tiếng, tôi đoán chừng như thế, và chắc chắn cái thời ấy người ta chưa có sáng kiến hiện đại đi vào bàn giấy, để cái cặp xuống bàn, rồi lấy lý do công tác để đi ra ngoài phố ngồi quán nước như thời nay, mà ở một tỉnh nhỏ bé như thế tất nhiên cũng chẳng có quán nước để có thể ra ngồi. Cha lại không thích nhìn thấy mẹ làm việc này việc nọ, cha thường ít khi quên dặn mẹ, mỗi khi đóng cánh cửa lớn ngó ra bờ sông để đi làm: bên nớ không phải làm chi cả, mọi chuyện đã có chị vú và, vân vân…

    Ít khi để ý đến việc nhà, càng ít khi cụ thể làm bất cứ một việc gì trong nhà, tay chân theo như tôi nhớ, không phải chỉ trong một quãng thời gian nhất định nào, mà trong nhiều giai đoạn khác nhau của cuộc sống gia đình, có vẻ như vốn rất là lều khều, nói thẳng ra là lúc nào cũng vụng về, cha tôi lại là một trong những người rất sớm đi Hướng đạo, và nghe đâu thuộc loại chức sắc, mỗi lần đi cắm trại – có khi vào tận Huế, nếu như căn cứ vào năm bảy tấm hình màu sepia sinh hoạt lửa trại trên núi Bạch mã và những vùng phụ cận Huế hay Quảng Trị còn để lại, mà mẹ tôi thỉnh thoảng đem ra cho chúng tôi cùng xem, vào cái thời cha tôi đã đi kháng chiến, ngày đêm còn đeo balô đạp xe đạp xuyên qua những núi rừng Việt bắc để làm công tác tuyên truyền về thuế nông nghiệp – chắc cha không quên nhờ một chị em nào đó, hoặc là chị em của mẹ, hoặc một trong những em gái của cha, đến nhà ngủ với mẹ.  Cha có cả thảy năm con trai, thì nói chung hết hai đã được thừa hưởng ít nhiều cái lều khều nhỏ này của cha: tôi chủ quan tự xét mình không có trong số đó. Nhưng ngược lại cha là một người không những có một đam mê thôi, mà còn có một năng khiếu kỳ lạ, về chuyện dọn nhà, nói đúng là thói quen dọn nhà. Cha là người ăn ở rất sạch. Chỗ nào cha buớc chân tới, chỗ ấy tất không thể có một hạt bụi. Trừ nhà bếp, mà cha không đặt chân tới, hoặc chỉ đặt chân tới để xem có mẹ tôi ở đấy hay không thôi (cha xưa nay vẫn có cái thói quen đi tìm vợ ngay trong nhà mình, vào bất cứ lúc nào, và có khi không để làm gì cả, nghĩa là việc đi tìm rất có thể chỉ bắt nguồn từ một cảm tưởng bất an có từ bao giờ không ai đoán được!), những phòng còn lại có thể nói liên tục được hưởng qui chế săn sóc và thay đổi ít ra là mỗi ba hay bốn ngày, hay lâu lắm là một tuần lễ. Như thế, cả cuộc sống kéo dài, trừ gần tám năm kháng chiến sống ở Việt bắc, và một thời gian không lâu ở thành phố Tourane, những căn phòng sắp xếp theo sáng kiến và kiểu cách mới thay đổi liền liền của cha tất nhiên nhiều lần bắt buộc phải trở lại bố trí cũ, cho dù với những sự hào hứng mới. Có một ngoại lệ chăng, là thời gian mới chuyển vào Saigon đầu năm 1953, cả nhà còn ở tạm trong một hai phòng nhỏ cọng với một phòng bếp ở tầng dưới một ngôi biệt thự nằm trên Boulevard Galliéni đi vào Chợ lớn mà tôi nghĩ là thuộc khu dành cho gia nhân, bởi lẽ toàn bộ biệt thự thời ấy được sử dụng làm nơi làm việc hành chánh của cả một Bộ trong chính phủ, mà Bộ trưởng chính là ông ngoại bác sĩ của tôi. Sự chăm sóc ấy của cha thường khi không được mẹ con chúng tôi hưởng ứng, có thể nói là kể từ những ngày sơ sinh của sự sáng tạo ấy cho đến khi cha đã già, do sức khỏe xuống dần nên đam mê cũng xuống theo, ít ra là nó không hề được hiểu là một công việc nhà. Nếu nó không thuộc phạm trù mỹ thuật, một đằng, thì đằng khác, nó cũng không được coi là một nhu cầu, có nghĩa trong trường hợp này, có những lúc, nói tội nghiệp cha, những nỗ lực sắp xếp của cha không thuộc loại nghệ thuật vị nghệ thuật, cũng không phải nghệ thuật vị nhân sinh. May cho cha, cha mẹ có cả thảy mười người con, cọng với mẹ tôi là mười một người, không ai coi là ch yện trịnh trọng bất cứ loại nghệ thuật nào trong hai thứ vừa kể. Cái nghệ thuật lớn nhất, đáng làm nhất đối với hầu hết anh chị em chúng tôi (có thể lấy từ cha, hay từ mẹ?) không lệ thuộc sáng kiến hay ý thích của người khác, nghệ thuật ấy là thứ nghệ thuật làm theo ý của riêng mình, và làm cho mình vui. Những người con của cha mẹ tôi ai nấy không giống phần còn lại trong đại gia đình, không bao giờ phải ngó trước ngó sau để xem ai thích cái gì thì mình thích cái ấy; làm nghệ thuật với chúng tôi, nếu có phải gọi như thế, ấy là làm đúng cái điều mình thích và làm được cái điều ấy, theo ý thích của mình – cho vui. Cũng như cha, là người kiên trì không vị bất cứ cái gì ngoài ý thích của chính mình, và gần suốt cuộc đời bên gia đình, cha cứ thế thay đổi vị trí những đồ đạc trong nhà, nhất là cái thời mới chân ướt chân ráo bước vào Saigon.

    Cho đến bây giờ, tôi tin chắc những anh chị em đợt một chúng tôi không quên những buổi sáng cuối tuần được theo cha mẹ đến một nơi mà chúng tôi chỉ biết tên tiếng Tây là salle des ventes, tôi nhớ nằm ở tầng trệt trên đường Lagrandière về sau đổi lại là Gia Long, từ nhà chúng tôi ở khu Nancy (nửa đường Saigon Chợ lớn) đi về phía Saigon, nó nằm bên tay trái, đâu đó gần cái nơi về sau tôi được biết là Thư viện Quốc gia, đi thẳng tới đường Catinat, rồi quẹo trái là ra tới Nhà thờ Đức bà màu đỏ gạch cao lêu nghêu trông giống như từ những tấm cartes postales bước ra. Cái tên Tây salle des ventes ấy nằm lâu năm trong đầu chúng tôi như một nơi duy nhất ở đất Saigon (mà nhiều năm sau tôi vẫn nghĩ là chúng tôi chưa biết hết) người ta bán bàn ghế tủ kệ, giường ngủ, đèn bàn, salon, đivăng, ghế bành, đồng hồ treo tường, tranh ảnh, vân vân, với một người đứng trên cao lớn tiếng hô to giá người mua chịu mua, và cái hình ảnh mua bán kia một thời làm chúng tôi tin rằng ở những chốn văn minh, có thể mọi việc mua bán đều theo một phương cách như thế, phải qua một trận hỏi đáp kịch liệt: người hỏi phải la lớn, người mua cũng phải hét to… Có thể nói trong vài năm kéo dài sau đó, khi gia đình chúng tôi bắt đầu dọn ra ở một căn phố cũng trên đại lộ Galliéni ấy, nhưng là sát nách bên kia khu Nancy, phía sau nhà có một con kinh nhỏ đen sình lầy cũng là phía sau dãy nhà lợp tôn của Institution Kiến Thiết là nơi mấy tháng trước đấy lần đầu tiên tôi mặc cái quần sọt kaki mới tinh (do mẹ tôi may lấy, và may bằng tay) nép mình vào bộ áo cha quen biết trong Bộ.quần tây màu nâu của cha đi vào lớp Troisième année, những vật dụng thu nhặt được từ salle des ventes là những đồ chơi thích thú đem lại cho cha tôi nhiều dịp tự thử thách sáng kiến và đầu óc mỹ thuật của mình, một mặt, và mặt kia, nó giữ chân cha ở nhà nhiều hơn với mẹ con chúng tôi thay vì đi rong nhậu nhẹt đàn đúm như nhiều bạn

     Sau này tôi biết tôi sẽ có thể phải mất công xáo tung những trang này, nếu như bây giờ tôi quyết định làm một công việc điên rồ là sắp xếp cuộc đời cha tôi theo một bố cục hẳn hoi. Suốt cuộc đời cha rao giảng sự thứ tự cho anh chị em chúng tôi, cả cho mẹ chúng tôi mà có thể lúc nào cha cũng yêu theo cái cách của một người anh cả, nếu không bảo là một người trên nói chung (cha hơn mẹ tám tuổi), thế nhưng trong những chuyện lớn, trong nhiều chuyện lớn, hình như cha thường cho mình sự ngoại lệ. Bảo rằng cuộc đời cha không có bố cục là không đúng, có điều hầu như lúc nào cũng chính cha là người có sáng kiến làm khác đi: chân ướt chân ráo bị bắt về thành, tức là về ngay Quảng Trị, rồi đang yên ổn ở Bộ Cựu chiến binh và phế binh ở Saigon, cha có sáng kiến nhảy qua Bộ tài chánh; ngồi không lâu ở Bộ tài chánh, có thể thích một số anh em bạn bè mới từ bên Tây về nước nhưng đặc biệt không ưa ai đó, cha khăn gói qua Thuế vụ; ngồi ở đây chưa nóng đít, cha bỏ những tay ba tàu ở Chợ lớn ngày đêm cứ đến đòi đút lót hối lộ, lên làm Thuế vụ Dalat; rồi ở đây, giữa lúc cả gia đình đang tận hưởng những ngày tháng thoải mái êm đềm với một cuộc sống riêng chỉ nói về vật chất thôi đã phải gọi là vượt rất xa sự mơ ước, trong một buổi họp với Đại biểu chính phủ (tương đương với Thủ hiến một miền, vả chăng cũng là một người cậu họ hàng xa của cha), giữa bao nhiêu chức sắc mặt mũi của cả một thành phố trung tâm Cao nguyên Trung phần, cha cảm hứng lên tiếng dạy và gần như mắng vào mặt vị Đại biểu kia, để rồi mấy tháng sau khăn gói đem cả một bầu đoàn thê tử trở về Saigon… Những thứ đổi đời đột ngột kia do một tay cha làm ra, và nói cường điệu, thì có thể gọi là dưới chiếc đũa phá cách của người điều khiển dàn nhạc là cha, cả gia đình chúng tôi đều có những cuộc phiêu lưu không ăn nhập gì đến những sắp xếp giao hưởng trật tự theo lý thuyết của con người kháng chiến ấy. Do đó, anh chị em chúng tôi, so với bạn bè chung quanh, bất cứ nơi nào cha đưa đến, cũng được xếp vào hạng vô địch về khoản… đổi trường, đưa đến một tình trạng có lẽ rất phù hợp với bản chất và cả hiện tượng nơi cha: giống như cha, anh chị em chúng tôi rất nhiều bạn..HNB

HNB – THƠ

Image 20200326141200 14

Tập THƠ Hoàng Ngọc Biên

TRÙNG DƯƠNG
ta thấy rồi
ngọn gió vàng thoảng qua
mặt trời chìm trong biển
sóng bạc đầu bắt nhịp
mây xanh xao nhuốm bệnh
hịu quạnh
những
trời xa
ta thấy rồi
nỗi đau dày vô tận
ký ức nặng mùa đông
thời gian ngàn cánh hạc
biển
lần nữa
trùng dương
ta thấy rồi
mưa trong mây vô tận
|nghiêng những giọt xanh lam
mùa khô da tróc vỏ
cây lần nữa
đổi
màu.

Phố Phái
      những bệt màu lam hồng
góc phố lạnh tanh
sắc xám
căn gác vuông
tro than ngày cũ
nét cọ đen kéo dài ký ức
nỗi buồn này
phố phái

      ngàn năm

 

Hnb Bxp

Hoàng Ngọc Biên – (Bùi Xuân Phái vẽ)

   TRỤ TRÊN NỖI ĐAU
hai chân trụ trên nỗi đau
ta hát bài hát riêng ta
hơn sáu thập kỷ đi – về
chiều nghiêng nghiêng màu đục
đường hai bên
cỏ dạt
đẫm thời gian
đem theo gì
con người vô định
đem theo gì – đêm lên tiếng hỏi
lời kinh của mẹ
tiếng mõ của cha

CHÂN DUNG
tôi toát mồ hôi thức dậy…
người vẽ chân dung tôi đã biến mất
và không để lại tăm hơi
tôi chạy đi tìm một cái gương soi.
không có gương.
từ lâu tôi đã tập quen không nhìn mình –
tôi sợ phải trông thấy tác phẩm của đoạ đày…
một em bé từ đâu chạy vụt qua
tôi nắm tay cháu
& khẩn khoản xin bỏ mấy đồng bạc nhờ cháu đái một vũng
để soi xuống tôi nhận rõ mức độ của sự giả dối
phải thu hoạch hơn bảy mươi năm qua

HNB – NHẠC

     Cảm nghĩ về ca khúc“HỒ THU”

    Hoàng Ngọc Biên sáng tác ca khúc Hồ thu” vào khoảng năm 1955, trong chuỗi tháng ngày thơ mộng bên những hồ Than Thở, hồ Xuân Hương ở Đà Lạt. Chẳng bao lâu, ca khúc nầy đã được giới thiệu trên đài phát thanh qua nhiều giọng ca nổi tiếng.Tuy là tác phẩm đầu tay nhưng ca từ và giai điệu già dặn không thua gì các tác giả đàn anh.Thế nhưng ít ai biết rằng Hoàng Ngọc Biên đã sáng tác Hồ Thu vào năm ông mới 17 tuổi. Khi nghe câu cố nhân về lối cũ mong tìm thungười ta không khỏi liên tưởng đến chuyện tình của Lamartine (1790-1869) và người đẹp Elvire bên hồ Bourget. Cuộc tình thơ mộng, ngắn ngủi và phù du nầy đã để lại cho nền thơ ca lãng mạn của nước Pháp một tác phẩm bất hủ là bài thơ Le Lac.  Lamartine sáng tác bài thơ nầy vào năm 1817 – cũng là năm ông bước vào tuổi 17. Tôi không có ý so sánh tầm cỡ, vai vế của hai chàng trai 17 nầy mà chỉ muốn so sánh cách biểu cảm của họ khi mỗi người đều quay về lối cũ để tìm lại hương xưa nhưng chỉ bắt gặp một  hồ thu xao xuyến lung linh với những vọng âm và ảo ảnh. Trong Le Lac,Lamartine nói như năn nỉ van xin với dòng thời gian vô tình: Ne pourrons-nous jamais  sur l’océan des âges/ Jeter l’ancre un seul jour!”. (…Thả neo trên biển thời gian/ Cho ta dừng lại một ngày được chăng!). Trong “Hồ Thu” của Hoàng Ngọc Biên, ca từ không xót xa  đến thế. Nhưng xin hãy nghe cho kỹ ở điệp khúc cuối cùng-vẫn với hương thu, gió thu, lá thu, nắng thu và sóng nước hồ thu ấy nhưng giai điệu không chùng xuống như một nỗi buồn nhẹ nhàng để  kết thúc bài hát theo những “mô típ” thường gặp ở các ca khúc lãng mạn thời tiền chiến.Ở điệp khúc nầy  mỗi nốt nhạc bỗng tăng lên một âm vực khiến cho lời ca vút lên cao,chất giọng của ca sĩ trở nên rộn rã, bồi hồi và nức nở như thử âm thanh trong một cuộc chia tay mà kẻ ở người đi không kịp nói hết lời tiển biệt- và như thể ca sĩ muốn nhờ giọng hát của mình đuổi theo một hình bóng nào đó sắp vuột bay khỏi cảnh giới thực tại.Có điều chuyện tình của Lamartine thì đã đi vào văn học sử còn với Hoàng Ngọc Biên, đó là chuyện gì – nếu tác giả không nói ra thì sẽ không ai biết .

Bài hát HỒ THU- Ngọc Mai ca
Download Embed 

NẮng HoÀng Hoa

HNB – HỘI HỌA 

Image 20200326141200 7

Bìa tạp chí Trình bày do HNB trình bày

                                MỘT ĐƯỜNG ÊKE,

MỘT PHÍA CHÂN TRỜI

                                                                                                                              Bài của ĐỖ TRUNG QUÂN

     HOÀNG NGỌC BIÊN (đời 17) là một văn nghệ sĩ tài hoa và đầy cá tính. Nhà thơ ĐỗTrung Quân xem ông như “sư phụ” và viết về ông như sau.

Ông là người mà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan- nguyên Phó giám đốc-Tổng biên tập Nhà Xuất bản TRẺ từng  nhận định “có nhiều đóng góp trong việc thúc đẩy thay đổi hình thức của báo chí, tạp chí thành phố kể từ những năm 1980…”. Tập san khổ nhỏ, in màu đầu tiên một cách trang trọng, thu hút độc giả, lại là một tờ báo của lực lượng Thanh niên xung phong TP. Hồ Chí Minh. Ấn phẩm của một lực lượng không chuyên qua sự trình bày của ông đã gây được những ấn tượng đẹp của bạn đọc thành phố thời đó. Tiếp theo là sự có mặt của nhiều tờ báo, tạp chí, có thể kể tên: Thanh Niên, Kiến thức Ngày nay, Điện ảnh TP. Hồ Chí Minh, Thế giới Mới…

Nhưng trước đó, tên tuổi ông không xa lạ gì với hoạt động hội họa dịch thuật… Ông là thành viên sáng lập hội học sĩ trẻ Việt Nam (trước 1975) cùng với những họa sĩ tên tuổi khác như Nguyễn Trung, Đình Cường, Trịnh Cung, Mai Chửng…, là dịch giả giới thiệu Mười nhà văn Pháp hiện đại (1969), là người trình bày một cách hệ thống nhất về văn hào Pháp Marcel Proust, chuyển ngữ thơ Brodsky – giải Nobel văn chương 1987…

Ông là thầy tôi.

Người thầy lạ lùng mà suốt 15 năm cùng làm việc, chưa lần nào ông tự nhận danh xưng ấy. Có những gặp gỡ tình cờ nhưng như một định mệnh bởi nó bền vững, gắn chặt cuộc đời người này vào phần đời người nọ. Nó làm thay đổi cả một số phận.

Tôi mang tuổi hai mươi vào cuộc đời như một hạt bụi vô danh. Tất tả với áo cơm và ngơ ngác với con đường trước mặt sau 5 năm khoác áo TNXP, về lại nơi đã sống với một dòng kênh đen chảy qua tuổi trẻ nghèo khó. Một hôm nào đó, con người không vô danh có bề ngoài râu tóc lập dị, cái nhìn hóm hỉnh sau cặp kính tròn, quần áo xuề xòa ấy đã đi qua và dừng lại với một người trẻ tuổi áo rách.

Ngôi nhà của ông từ đó là trường, một ngôi trường không bảng hiệu. Căn phòng của ông từ đó là lớp, một lớp học không học phí. Tôi đã sống, đã làm việc ở đó bên cạnh sự kiên nhẫn đáng kinh ngạc của ông trước một học trò tồi. Ông chỉ vào tủ sách của mình: “Hãy lục tìm ở đấy!”. Suốt 10 năm, tôi đã lục tìm, đã hối hả, cố nhồi nhét vào đầu những điều mà trước đó dòng kênh đen đã chặn lối đến những chân trời của kiến thức, đã đẩy tôi ra vỉa hè cơm áo. Ông chỉ vào chiếc giường nhỏ: “Hãy ngả lưng ở đấy!”. Suốt 10 năm, tôi đã nằm ngủ những giất ngủ bình ổn, lắng nghe tiếng chân ông những đêm mưa thức giấc, đắp thêm cho chăn ấm. Người “nội tướng” đảm đang của ông cũng chỉ vào… tủ lạnh, nói cùng tôi câu nói của ông: “Hãy… lục tìm trong ấy…” những khuya bụng đói. Không một quy ước nào, tôi đã mặc nhiên là một thành viên của một gia đình không hề vắng vẻ con cái, người thân. Căn phòng ấy sáng đèn suốt 10 năm, cũng ở nơi ấy, tôi đã cầm lên cây cọ vẽ, nguệch ngoạc những nét đầu tiên. Ông không đứng ngoài mà đã cùng làm việc bằng đôi tay cần mẫn của người thợ, tầm nhìn của người thầy và những tách cà phê anh em. Ông lặng lẽ, kiên nhẫn mài dũa cái hạt bụi vô danh mà lẽ ra nó đã chìm khuất, đã tan biến vào vô vàn số phận của cuộc đời rộng lớn.

Ông là một người hài hước, bình tĩnh trước mọi tình huống. Bài học thường xuyên là hãy biết khôi hài, biết làm người khác nhoẻn một nụ cười những khi đau khổ. Nhưng ông hoàn toàn không là một người dễ dãi. Hãy kẻ những đường thẳng, thật thẳng của êke trên trang giấy, bức vẽ. Đấy cũng là ẩn ngôn cho bài học sống mà nhiều năm sau, tôi mới hình dung trong ứng xử cuộc đời. Những lúc muốn “cong” vì mỏi mệt, vì cám dỗ, những đường êke của ông lại hiện ra trong tâm tưởng. Ông cũng không hoàn toàn là một người quá khiêm nhường. Sự hợm hĩnh của một ai đó chắc chắn sẽ được ông đáp lại bằng cái ngạo nghễ không khoan nhượng. Sự cầu thị chân thành, sẽ gặt được sự chân thành nơi ông. Ông có người quý mến, có người dè bĩu nhưng cuộc đời ông không có kẻ thù. Lòng vị tha ẩn giấu trong vẻ ngoài có khi lạnh lẽo mà chỉ những ai thường tiếp xúc mới nhận ra.

Một người thầy không tự nhận là thầy, nhưng kẻ áo rách ngày nào, từ ông, đã không còn vô danh nữa. Đạo lý sơ đẳng Á Đông chỉ ra cho tôi những dòng viết này, những dòng mà ông chắc chắn sẽ nhíu mày không hài lòng, bởi có những điều thiêng liêng vượt qua ngôn ngữ. Lẽ ra tôi phải im lặng.

Nhưng anh Hoàng Ngọc Biên ơi! Đấy chỉ là một đêm trong hàng nghìn đêm sực tỉnh chợt nhớ về căn phòng nhỏ, nơi có những cánh bồ câu hiền lành vẩy lên trên bức tường xám. Bỗng chợt nhớ về lối ngõ nhỏ nhoi, đến những đỉnh núi sương mù, những dốc đồi, những chân mây và cả những bông quý vàng Đà Lạt ngày nào… Giờ đây, ở tận chân mây xa thẳm hẳn vẫn còn đó những dòng khói trầm tư từ tẩu thuốc sau những buồn vui của một đời người. Anh vẫn lặng lẽ sống và làm việc như đã từng.

Mà đời người thì ngắn ngủi. Như hôm nay, đứa học trò vụng về nhất, kẻ kém anh 18 tuổi đã một hôm thấy sợi tóc bạc trên đầu. Vẫn cứ nhớ về một người đàn ông hệt như nhớ… những mối tình đầu. Kỳ thật!

                                                                                                                                                 ĐỖ TRUNG QUÂN                                                                                                                                                   Sài Gòn, tháng tư 1996

 Hoàng Ngọc Biên (Bùi Xuân Phái vẽ )                                        Hoàng Ngọc Biên – (Đỗ Trung Quân vẽ)

HOÀNG NGỌC BIÊN

                                                                                                                              NGÔ THẾ VINH giới thiệu

Hoàng Ngọc Biên, tên thật cũng là bút hiệu, sinh ngày 18 tháng 1 năm 1938, làng Bích Khê, Phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Học sinh trường Thánh Mẫu Teresa Quảng Trị. 1942, theo cha chuyển sở làm, cả gia đình vô Huế, sống ở Vĩ Dạ mấy năm, sau đó lại theo cha vào Tourane / Đà Nẵng một năm rồi trở ra Quảng Trị. Năm 1950 “du học” Huế. Năm 1952, trở về Quảng Trị học tiếp trung học.

1953, Biên theo gia đình vào Sài Gòn, học trường Kiến Thiết và bắt đầu kết thân với người bạn cùng lớp Nguyễn Đăng Thường, cũng từ đó nảy nở một tình bạn lâu dài cùng với Mark Frankland, nhà báo Anh cho tới những năm về sau này.

1954, Biên lần đầu tiên được gặp nhà văn Vũ Khắc Khoan di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn, và mới được biết bác Khoan là anh em con dì với bên mẹ ruột của Biên.

1958, Thi vào Đại Học Sư Phạm Đà Lạt ban Pháp văn. Thời gian này, Biên quen với nhà biên khảo Tam Ích, lúc đó đang dạy Pháp văn tại trường trung học Việt Anh. Biên còn nhớ những núi sách báo ở nhà Tam Ích, ông cũng thường ghé thăm Biên và mượn đọc những số báo Le Figaro Littéraire và Arts et Spectacles mà Biên đặt mua dài hạn hàng tuần từ Pháp.

Tại Đại Học Sư Phạm, Biên có cơ hội kết thân với Giáo sư Etiennette Poirson là người thầy Biên mãi mãi ngưỡng mộ, sau đó về Sài Gòn bà còn cung cấp cho Biên nhiều tài liệu viết về Proust. Biên bắt đầu say mê đọc bộ sách À la Recherche du Temps perdu.

1961, Tốt nghiệp ĐHSP, về dạy Pháp văn Trung học Tống Phước Hiệp Vĩnh Long, cùng nhiệm sở với Nguyễn Thu Hồng, cùng khoá ĐHSP ban Pháp văn Sài Gòn và một năm sau cô giáo xuất thân từ Nhà Trắng Saint-Paul trở thành bạn đời của Hoàng Ngọc Biên cho tới bây giờ.

1964, Thuyên chuyển về Trung học Tây Ninh, rồi Tân An. Bắt đầu viết “Viết Giữa Mùa Hè”. Tìm gặp và rồi thân thiết với nhà văn Võ Phiến, thường xuyên lui tới nhà anh chị Võ Phiến trong hẻm Trần Quang Diệu. Người viết gặp và quen Hoàng Ngọc Biên cũng trong khoảng thời gian này.

Chân dung Hoàng Ngọc Biên qua nét phác hoạ của Võ Phiến: “Anh Biên thì khuynh tả, khoái Che Guevara; chính anh thì râu ria tóc tai dài phủ tới ót. Ảnh mê M. Proust như tôi, nhưng sưu tầm về Proust đầy đủ chứ không tài tử như tôi; anh giỏi hội hoạ và âm nhạc. Anh chị Biên và vợ chồng tôi hợp tính tình, thường gần gũi tâm tình. Sau 4.1975 anh Biên vẫn giữ được râu tóc xum xuê suốt 16 năm. Tháng 10.91 anh rời Sài Gòn đi Mỹ, các con tôi như thiếu đi người chú ruột. Trong 16 năm qua, mọi việc lớn nhỏ trong gia đình các con tôi, gặp rắc rối là đều do chú thím Biên giải quyết cho. Hiện thời anh chị ấy ở Utah, Salt Lake City.  [Tuyển tập Thư Võ Phiến, Los Angeles 4.12.1991]

1968, Tại Trung Tâm Học Liệu: Biên kết thân với Cao Thanh Tùng, Nguyễn Đồng, Nguyễn Thị Hợp, Lê Thị Chí…  Diễm Châu từ Indiana (Mỹ) về Sài Gòn tìm gặp Hoàng Ngọc Biên, bàn dự án cùng nhau làm tạp chí Trình Bầy. Đi lính 9 tuần Quang Trung. Xuất bản Tuyển tập Mười Nhà Văn Pháp Hiện đại, Nxb Trình Bầy. Giới thiệu những tên tuổi lẫy lừng của phong trào tiểu thuyết mới Pháp như Michel Butor, Alain Robbe-Grillet, Natalie Sarraute, Claude Simon…

1970, Năm của Tạp chí Trình Bầy ra mắt số đầu tiên. Biên được Học bổng USAID về Book Design và Book Production McGraw-Hill đi Mỹ, sau được chuyển qua McGraw-Hill FEP Singapore. Xuất bản Đêm ngủ ở tỉnh, tập truyện ngắn, một thử nghiệm hình thức tiểu thuyết mới của Hoàng Ngọc Biên, Nxb Cảo Thơm.

1973, Dạy Pháp văn 3 niên khoá tại Đại học Bách khoa Sài Gòn.

1975, Làm báo Tin Sáng sau 1975, là trưởng ban văn hoá xã hội, rồi kiêm trưởng ban kỹ thuật sau khi Nguyễn Đồng vượt biên, cùng làm việc với mấy bạn cũ như Nguyễn Đồng Nguyễn Thị Hợp, Cao Thanh Tùng, Đinh Cường, và cả Nguyễn Xuân Hoàng.

1991, Sang Mỹ định cư tháng 10.1991, ghi danh vào Salt Lake Community College cùng với hai con là Hoàng Tân Nhân và Hoàng Tân Dân, để trước tiên làm quen với máy móc tin học. Biên bắt đần vẽ tranh trên computer với kỹ thuật số / digital art.

1993, Vào làm việc cho tờ báo Salt Lake City Weekly từ Tháng Bảy 1993 tới 1998 với vai trò Art Director; 1999 chuyển qua chuyển qua làm Production Coordinator.

2004, Bắt đầu tham gia diễn đàn tienve.org qua bản dịch Chuyến đi mùa đông của George Perec (2003) Nguyễn Hưng Quốc đem về từ nhà anh Võ Phiến.

Bất ngờ cũng năm ấy, Biên bị méo một bên mặt trái và nói khó khăn. Bạn bè không an tâm vì nghĩ Biên bị tai biến mạch máu não/ stroke nhưng thực ra anh chỉ bị liệt dây thần kinh mặt ngoại biên / dây thần kinh sọ số VII hay Bell’s Palsy. [Charles Bell là nhà cơ thể học đầu tiên mô tả căn bệnh này.] Biên được chữa trị bằng tây y kết hợp với châm cứu. Điều trị hay không, trong nhiều trường hợp Bell’s Palsy có tiến trình tự hồi phục.  Cùng năm, Biên chọn nghỉ hưu ở tuổi 66 và sau đó vợ chồng Biên dọn về San Jose sống với gia đình người con trai.

2011, Sức khoẻ suy yếu, Biên được bác sĩ chẩn đoán bị sơ gan / cirrhosis giai đoạn cuối, và được đưa vào danh sách chờ bộ phận để được thay gan / waiting list for liver transplant.

2012, Biên được thay ghép gan tại Bệnh viện Đại học Stanford, Palo Alto 12.9.2012.  Bệnh viện ĐH Stanford cũng là nơi Nguyễn Xuân Hoàng được điều trị bệnh sarcoma. Biên là trường hợp khá hiếm hoi được thay ghép gan ở ngưỡng tuổi đã quá thất thập cổ lai hy, năm ấy Biên cũng đã 74 tuổi. Vượt qua được dốc tử sinh, Biên dần dần hồi phục. Sau này được biết bộ gan mới của Biên là nhận từ một thanh niên Mỹ mới ngoài 30 tuổi.

Hoàng Ngọc Biên đọc nhiều và tích luỹ. Sinh hoạt của Biên rất đa dạng, ngoài dạy học, Biên viết văn, làm thơ, dịch sách, vẽ tranh, và cả soạn nhạc, điều rất ít ai biết. Trong Ban biên tập tạp chí Trình Bầy (1961-1975), phụ trách mỹ thuật cho các sách báo và nhà xuất bản ở Việt Nam (1975-1991) và tuần báo The Salt Lake City Weekly ở Mỹ (1993-2004).

Trước 1975 đã triển lãm tranh tại Viện Đại học Đà Lạt, Gœthe Institut, Alliance Française, Hội Họa sĩ Trẻ VN, Phòng Thông tin & Báo chí Sài Gòn, La Dolce Vita (Hotel Continental), Trung tâm Văn hóa Vũng Tàu, và đồ họa, Nxb McGraw-Hill, Singapore, 1972.

XUẤT BẢN TRƯỚC 1975:

—  Mười Nhà Văn Pháp Hiện Đại, Trình Bầy, 1969;

—  Đêm Ngủ ở Tỉnh, tập truyện ngắn, Cảo Thơm, Saigon, 1970; —  Marcel Proust – Con Người Xã Hội, Trình Bầy, 1974;

XUẤT BẢN SAU 1975:

—  Uống Trà Sớm Mai, thơ, Trình Bầy, USA, 1996.

—  Người Đạp Xe Vào Thành Phố Buổi Sáng, truyện, Trình Bầy, USA, 1997.

— Chuyến Xe, truyện, Trình Bầy, USA 1997.

— Đất và Người và Thần Thoại Việt Nam, thơ, Trình Bầy, USA, 1997.

— Biển Ngày Đêm, thơ, Trình Bầy, USA, 1999.

—  Quê Hương, Người Về [hai đoản văn viết theo một tấm tranh dán của Nguyễn Đăng Thường], Trình Bầy, USA, 2001.

— Chân Mây Cuối Trời, thơ [in chung với thơ Đỗ Trung Quân và tranh Nguyễn Quỳnh], Trình Bầy, USA, 2003.

TÁC PHẨM DỊCH:

—  Andrei Sinyavski: Thơ Pasternak, Con Người và Tác Phẩm Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1988.

—  Tĩnh Vật và Những bài Thơ Khác, thơ Joseph Brodsky, Thuận Hóa, Huế, 1991;

—  Mối Tình Đầu, truyện Samuel Beckett, Trình Bầy, USA,1993.

—  Thơ Mới Ba Lan, tuyển tập thơ mới Ba lan, Trình Bầy, USA, 1993.

—  Marcel Proust, tiểu luận Samuel Beckett, Trình Bầy, USA, 1995.

—  Thư Hà Nội, của Jean Tardieu [dịch chung với Nguyễn Thu Hồng], Trình Bầy, USA, 2001.

—  Chuyến Đi Mùa Đông, truyện Georges Perec, Trình Bầy, USA, 2003.

— DJINN, truyện Alain Robbe-Grillet, Trình Bầy, USA, 2003.

HOÀNG NGỌC BIÊN VÀ NHÓM TRÌNH BẦY

Diễm Châu tên Phạm Văn Rao, sinh ở hải Phòng, di cư vào Nam 1954. Quen Thế Nguyên từ trại học sinh di cư Phú Thọ. Diễm Châu tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm ban Anh Văn, được tu nghiệp ở Mỹ sau đó trở về Sài Gòn, tìm gặp Hoàng Ngọc Biên thuyết phục cùng làm tờ báo Trình Bầy. Biên đã cùng Diễm Châu, ngồi nhiều tuần lễ bên một vách tường café vỉa hè đường Sương Nguyệt Anh Sài Gòn soạn bài Phi lộ với tiêu đề “Con Đường Đi Tới” cho số báo ra mắt. Trích dẫn:

…”Con đường đi tới là con đường mưu cầu một nền hoà bình, trong đó mỗi một người Việt Nam, không kỳ thị ý thức hệ, sẽ có một chỗ đứng xứng đáng với phẩm giá con người trên quê hương mình.”

…”Không thể có hoà bình vô điều kiện. Một nền hoà bình Việt Nam nhất định sẽ không thể chấp nhận bất cứ một sự hiện diện nào của các lực lượng nước ngoài và đồng thời cũng không thể chấp nhận bất cứ một cơ cấu, một định chế hay một thế lực nào trong nước ngăn cản công cuộc giải phóng con người Việt Nam.”  Hết trích dẫn.

Trình Bầy một tờ báo thiên tả, phản chiến giữa giông bão của cuộc chiến tranh quốc cộng, với Diễm Châu tổng thư ký, Diễm Châu còn một bút hiệu khác là Võ Hồng Ngự. Thế Nguyên là chủ nhiệm. Tờ báo đã quy tụ được nhiều cây viết thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau thời bấy giờ. Không phải chỉ có ở báo Bách Khoa, Trình Bầy thực sự là một vùng xôi đậu với tên tuổi những nhà văn nhà thơ như Nguyên Sa, Diễm Châu, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Đăng Thường, Trùng Dương, Thảo Trường, Nguyễn Mộng Gíác, Du Tử Lê, Mai Trung Tĩnh, Nguyễn Quốc Thái, Luân Hoán, Trần Hoài Thư, Ngô Thế Vinh… nhiều người xuất thân từ quân đội, bên cạnh đó là những cây bút thiên cộng Ngô Kha, Nguỵ Ngữ… hay cộng sản nằm vùng như Nguyễn Nguyên – Nguyễn Ngọc Lương, giống như trường hợp Vũ Hạnh bên tờ báo Bách Khoa.

VỚI M. PROUST ĐI TÌM THỜI GIAN ĐÃ MẤT

Từ 1959, Biên đã say mê trong nhiều năm đọc và dịch Marcel Proust; 12 năm sau Biên cho xuất bản “Marcel Proust, Con Người Xã Hội”, nhân dịp 100 năm sinh của M. Proust.

  1. Proust sinh ngày 10.7.1871, mất ngày 18.11.1922 năm ông 51 tuổi. M. Proust đã để lại một sự nghiệp đồ sộ với tác phẩm À la Recherche du Temps Perdu / Đi tìm Thời gian Đã Mất gồm 7 cuốn. Le Temps Retrouvé / Thời Gian Tìm Thấy Lại là tập cuối khép lại mấy ngàn trang sách. Proust đã trở thành một tượng đài văn học được ngưỡng mộ, tác phẩm của ông là đối tượng cho hàng trăm công trình nghiên cứu và luận án từ khi ông chết và cho tới mãi bây giờ.

Những trang sách của ông thế nào mà vẫn làm cho các thế hệ say mê. Chắc chắn chẳng phải chỉ là những ký ức về một ngôi làng, về một gia đình, hay về một thời thơ ấu của cậu bé với nội tâm dồn nén và cả ẩn ức với khuynh hướng đồng tính. M. Proust đã từng ví mình như Noé trong Kinh Thánh, vì cơn hồng thuỷ đã bị nhốt trong thuyền suốt bốn mươi ngày đêm. M. Proust viết: “Bấy giờ tôi mới hiểu được là không có chỗ nào Noé có thể nhìn cuộc đời rõ ràng bằng từ trong thuyền, cho dù thuyền đã đóng kín dù đang tối mịt mùng trên trái đất / Jamais Noé ne put si bien voir le monde que de l’arche malgré qu’elle fut close et qu’il fit nuit sur la terre.” M. Proust, A la Recherche du Temps Perdu.

  1. Proust với một thể chất bệnh hoạn, bị giam hãm mình trong căn phòng kín, chủ yếu viết về ban đêm. Và từ không gian khép kín ấy, M. Proust đã viết về những cái cái vụn vặt của đời sống đâu đây có phiền muộn, có hoan lạc có những tiếng động, những mùi vị… tưởng như quá tầm thường quá quen thuộc nhưng đã được một thiên tài Proust ghi lại như một ký ức của trí tuệ / mémoire intellectuel bằng thứ ngôn ngữ kỳ diệu đẫm chất thơ và cả nhạc tính.

Trong Thời Gian Tìm Thấy Lại / Le Temps Retrouvé, M. Proust đã viết: “Những sự vật… ngay khi ta thấy được chúng, đã trở thành một cái gì vô hình trong ta.”

Cao Thanh Tùng, một nhạc sĩ cello trong bài viết “Quê hương của Nhạc sĩ” đã ví À la Recherche du Temps Perdu như “một tác phẩm giao hưởng lớn trên dòng chuyển động luân lưu bất tận của thời gian”. Thời gian tưởng đã mất, nhưng rồi qua ký ức trí tuệ của Proust thời gian tìm thấy lại, và đã trở thành thời gian bất tử.

Có thể nói chặng đường tiểu thuyết mới của Hoàng Ngọc Biên thực ra đã chịu ảnh hưởng rất sớm và sâu đậm từ M. Proust chứ không phải chờ tới thời kỳ “phong trào tiểu thuyết mới” với Michel Butor, Alain Robbe-Grillet, Samuel Beckett mà Biên được đọc ở những năm về sau này.

Năm 1967 tại Sài Gòn, Hoàng Ngọc Biên đã giúp Trần Phong Giao thực hiện 2 số báo Văn 85-86 với chủ đề Đọc văn Marcel Proust. Hoàng Ngọc Biên được coi như ngòi bút chuyên khảo về M. Proust ở miền Nam lúc bấy giờ.

CON ĐƯỜNG TIỂU THUYẾT MỚI

Cho tới 1954, tiểu thuyết Việt Nam hầu như vẫn theo khuôn khổ cổ điển, có cốt truyện với diễn tiến theo trình tự thời gian. Trong khi đó, ở phương Tây đang có những bước đột phá của phong trào tiểu thuyết mới/ nouveau roman. Với các tên tuổi như: Alain Robbe-Grillet, Michel Butor, Claude Simon, Jacque Derrida, Nathalie Sarraute… Không còn mẫu mực xây dựng tiểu thuyết truyền thống đã có từ mấy thế kỷ trước. Có thể ví tiểu thuyết mới như một bước phá thể, như từ thơ niêm luật chuyển sang thơ tự do. Hình thức tiểu thuyết mới đã không còn thứ tự thời gian, người viết không còn dùng ngôi thứ ba đứng bên ngoài nhân vật. Cùng sự việc được ghi lại qua nhiều nhãn quan khác nhau và vai trò cốt truyện gần như bị loại bỏ.  Michel Butor cũng đã phát biểu: “Tiểu thuyết như một tìm tòi, hình thức của tiểu thuyết có tầm quan trọng hàng đầu”.

Phong trào tiểu thuyết mới của Pháp tuy rầm rộ nhưng ngắn ngủi và không tạo được những ảnh hưởng lâu dài, nhưng nó thành công là đã mở ra những khái niệm khoáng đạt hơn về kỹ thuật xây dựng tiểu thuyết.

Ở miền Nam Việt Nam, thập niên 1960s, một số tác giả trẻ bén nhậy với văn học đổi mới ở phương Tây, bắt đầu dấn thân thử nghiệm kỹ thuật tiểu thuyết mới. Trong số đó phải kể tới Nhóm Đêm Trắng bao gồm Huỳnh Phan Anh, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Quốc Trụ. Ý kiến khởi đầu lập Nxb Đêm Trắng là từ Huỳnh Phan Anh, để chỉ xuất bản các sáng tác của nhóm, đa số xuất thân nhà giáo, trừ Nguyễn Đình Toàn và Nguyễn Quốc Trụ. Không tuyên ngôn, không đường lối, mỗi người sáng tác độc lập với quan niệm rộng mở hơn về viết tiểu thuyết.

Dương Nghiễm Mậu tuy không đọc các tác phẩm tiểu thuyết mới của Pháp nhưng DNM được Võ Phiến đánh giá là thành công nhất trong cách sử dụng các kỹ thuật tiểu thuyết mới. “Trong cuốn truyện dài Con Sâu chẳng hạn, ‘tôi’ không hẳn là một nhân vật nào, khi là nhân vật này, khi lại là nhân vật nọ; sự chuyển vị xảy ra thoăn thoắt làm nổi bật sự thay đổi đột ngột những quan điểm nhìn sự việc khác nhau. Ông Dương lại có cái hay là mặc dầu sử dụng kỹ thuật Tây phương ông vẫn giữ được cốt cách dân tộc: đọc ông người ta không hề cảm thấy dấu vết ảnh hưởng ngoại lai, người đọc ở bất cứ trình độ nào cũng thấy thoải mái, thấy một bầu không khí quen thuộc.” [Văn Học Miền Nam Tổng Quan, tr.260-262]

Nhưng theo Nguyễn-Xuân Hoàng và Nguyễn Đình Toàn thì chính Hoàng Ngọc Biên mới thực sự là người khởi đầu nghiên cứu về phong trào Nouveau Roman của Pháp, dịch một số tác phẩm của Alain Robbe-Grillet, viết về 10 nhà văn Pháp hiện đại và cũng thể hiện quan niệm tiểu thuyết mới ấy qua tập truyện Đêm Ngủ ở Tỉnh do Cảo Thơm xuất bản Sài Gòn, 1970. Biên-Butor là một tên ghép bạn bè thân ái đặt cho Hoàng Ngọc Biên lúc đó, Michel Butor là một kiện tướng của phong trào tiểu thuyết mới của Pháp thời bấy giờ.

Trong các truyện, không có truyện của Hoàng Ngọc Biên, chỉ có cái nhìn lạnh lùng bên ngoài của sự việc, không có xen vào những suy tưởng, xúc động của người viết.

Một trích đoạn truyện ngắn Đêm Ngủ ở Tỉnh:

Anh cúi đầu bước những bước dài ngắn không đều nhau trên quốc lộ số 4 dẫn vào tỉnh lỵ. Dưới cơn mưa mùa hè đột ngột đổ mạnh xuống che kín một bầu trời cũng đột ngột xám đen, thấp trũng, rồi thưa dần, thưa dần – những hạt mưa nhỏ bay theo hướng ngọn gió chiều từ phía cầu sắt tạt mạnh vào mặt anh, lạnh ngắt – anh cẩn thận tránh những vũng nước sâu đọng lại sau mấy ngày mưa, những vạch nước dài chảy thẳng theo những đường cày chồng lên nhau của những chiếc xe hàng ngày vẫn thường chạy lấn hai bên lề, lăn bánh trên chỗ đất vàng. Anh đi qua một quán nước bên phải, rồi một quán nước nữa, mái thấp lẻ tè không qua khỏi tầm tay với, anh đi qua một trại lính bên trái, khung cửa sắt hoen rỉ giờ đây đứng chết lì không đóng lại được, anh đi qua một khu nhà thờ nằm sâu sau một khoảng đất rộng rợp bóng lá cây, những lá cây trong năm vẫn khoác một lớp bụi vàng bốc lên từ mặt quốc lộ – với những chuyến xe hàng, những đoàn xe chuyển binh chạy vụt qua liên miên từng phút từng giây – giờ đây lấp lánh một màu xanh tươi mát.

Anh đi qua ngôi trường tiểu học xây bên hông nhà thờ giờ đây vắng bóng ê a tập đọc của lũ trẻ theo giọng lên thánh thót của các soeurs cất cao sau mỗi nhịp thước gõ trên bàn. Anh đi qua khu đất vừa được đắp lên hơn một năm nay dùng làm nơi hạ cánh cho những chiếc trực thăng hành quân, những xe cần trục, những máy móc, những đống đá xanh còn nằm ngổn ngang la liệt bên những cây sắt dài chồng lên nhau, thẳng hàng, dáng chừng để hoàn thành một sân bay lớn hơn.

Tỉnh lỵ bắt đầu hiện ra với ngôi chùa im lìm ẩn kín sau những cây cảnh nhìn thấy giữa hai hàng dậu thưa, hai hàng chữ nho sơn vàng trên nền đỏ của hai trụ lớn được cơn mưa rửa sạch, rực rỡ hẳn lên. Anh đi qua những mái lá thấp xuống, ướt át, những mái ngói đỏ chói sau những cơn mưa lại đỏ chói hơn, nằm lẫn với hai ngôi chúa Cao Đài mới và cũ, với những hình chạm bay bướm loè loẹt, anh đi qua trạm kiểm soát – nhà ga cũ nhắc lại quá khứ những chuyến xe lửa ghé qua…”

Qua suốt 40 trang sách Đêm Ngủ ở Tỉnh, vẫn một giọng văn đều đều như vậy, xuôi chảy theo dòng ý thức với giàu hình ảnh và cả chất thơ. Người đọc đi theo bước chân nhân vật không có tên, không có địa danh nơi đâu và cũng không biết nhân vật định đi về đâu. Cảnh tượng được ghi nhận như phản chiếu từ một tấm gương, cảm xúc nếu có là do tự người đọc chứ không do truyền đạt từ người viết.

Tuy rất thân thiết và quý trọng tài năng Hoàng Ngọc Biên nhưng Võ Phiến cũng có lúc băn khoăn tự hỏi, qua một lá thư riêng gửi Nguyễn Hưng Quốc:  “Cái viết của Hoàng Ngọc Biên, có cố gắng thoát khỏi thời ‘tiền lý thuyết’ Việt Nam? Liệu anh ấy có tìm ra được hướng lý thuyết nào không, đường hướng nào mới mẻ không?”… [Santa Ana 5.6.2004]

Chính Hoàng Ngọc Biên, cả ở những năm về sau này, qua những sáng tác mới anh vẫn cứ bền bỉ và kiên trì đi trên con đường tiểu thuyết mới mà anh đã chọn. Truyện của Biên kén độc giả, Hoàng Ngọc Biên không phải là tác giả của đám đông nên tên tuổi của anh cũng ít được biết tới.

Hnbien Sach

                                                                                          Sách HOANG NGOC BIÊN

 

ĐỌC THƠ HOÀNG NGỌC BIÊN

Biên làm nhiều thơ. Đọc một bài thơ đầu trích từ tập thơ Biển Ngày Đêm, Trình Bầy, USA, 1999, được mở đầu với câu trích dẫn:

When a man dies

His portraits change.

Anna Akhmatova

Một chỗ ngả lưng

một chút nắng

một chút mưa

một chút chiều êm ả

một chút phật

một chút chúa

một chút bão tố trong đêm

một chút mây

một chút gió

chút địa ngục

ta ghé chơi

một chút thiên đàng

ta ngả lưng nằm xuống

CÕI TẠO HÌNH HOÀNG NGỌC BIÊN

Hoàng Ngọc Biên chưa bao giờ tự nhận mình là trong số thành viên sáng lập Hội Hoạ Sĩ Trẻ, nhưng Biên có tranh tham dự triển lãm chung với

các bạn Hội Hoạ Sĩ Trẻ; và theo Trịnh Cung thì Biên chính thức có tên trong danh sách hội viên HHST từ thập niên 1970.

Nếu Nguyên Khai năm 1994, đã mạnh dạn mở rộng tầm nhìn của người nghệ sĩ vào thế giới kỹ thuật computer hiện đại: anh sáng tạo những bức tranh sơn dầu vẫn với đường nét tài hoa rất Nguyên Khai nhưng có sử dụng thêm cả những chip điện tử như chất liệu mới trong không gian hội hoạ của mình.

Thì Hoàng Ngọc Biên từ thập niên 1990, đã bắt đầu vận dụng kỹ thuật số  Digital, để sáng tạo nhiều bức đồ hoạ với đường nét thuần khiết bình dị nhưng bố cục và màu sắc thì đặc sắc.

Biên được du học Singapore về Book Design và Book Production McGraw-Hill sau đó là Nhật Bản. Tài hoa của Biên cũng được thể hiện qua những mẫu bìa báo Trình bầy và các bìa sách rất nghệ thuật theo cái nghĩa cổ điển và cũng rất Hoàng Ngọc Biên.

Rất sớm từ 1977, Hoàng Ngọc Biên đã phát biểu về quan niệm hội hoạ hay nghệ thuật nói chung: “Tôi thích nhìn công việc nghệ thuật tạo hình, trong bất cứ giai đoạn nào, đều là những thể nghiệm, cũng có thể gọi là những trò chơi thể nghiệm. Chỗ này, nghệ thuật tạo hình xích lại gần những nghệ thuật khác: nhạc, múa, văn chương, kiến trúc, điêu khắc, kể cả điện ảnh – và kể cả chuyện dịch thuật: mọi kết quả đều có thể được coi là một đề nghị, hay ít nữa trong tình trạng đề nghị. Một công trình nghệ thuật được công bố không bao giờ nên được nhìn như một sự hoàn chỉnh. Thái độ này không làm giảm giá trị của công việc nghệ thuật, trái lại, nó nâng cao cái nhìn của chúng ta về bản chất của công việc ấy.” Ghi Chép về Công Việc Nghệ Thuật, Saigon 1977

Với Hoàng Ngọc Biên, một tác phẩm được công bố không bao giờ nên được nhìn như một sự hoàn chỉnh, suốt đời Biên luôn luôn là một cuộc hành trình đi tìm cái mới.

HỒ THU NHẠC KHÚC HOÀNG NGỌC BIÊN

Biên còn nhớ từ tuổi nhỏ, nơi thị xã tỉnh Quảng Trị, đã có một ban hợp ca thiếu nhi 5 giọng, trong đó có hai chị em Hoàng Ngọc Biên, cùng hai người bạn đồng trang lứa và một người anh bà con Nguyễn Văn Dziệp – là ca sĩ Duy Khánh sau này. Biên bắt đầu học nhạc và kết anh em với Cao Cự Phúc tức nhạc sĩ Hoàng Nguyên, lúc đó 20 tuổi mới từ chiến khu về. Biên được anh Phúc chọn lĩnh xướng, và chỉ có một bài hát mà Biên còn nhớ là “Khúc hát sông Thao” của Đỗ Nhuận.

1955, Vào Sài Gòn Biên học nhạc với nhạc sĩ Võ Đức Tuyết, em nhạc sĩ Võ Đức Thu. Ca khúc đầu tay “Hồ Thu” được Biên sáng tác năm 17 tuổi giữa những chuỗi ngày thơ mộng trong một chuyến đi Đà Lạt (1955). Biên làm nhạc sớm trước khi viết văn làm thơ; Hồ Thu là một ca khúc thu buồn nhẹ nhàng với ca từ trong sáng. Biên còn nhớ bản nhạc đã được nữ ca sĩ Tâm Vấn hát trên đài phát thanh Quốc Gia Sài Gòn.

Sách của HOÀNG NGỌC BIÊN

HỒ THU (1955)

                                                               Nhạc và ời của Hoàng Ngọc Biên

Gió lên rồi dường như nhắc mùa xưa

Tiếng thu về nhẹ rơi lá bên hồ

Buồn hiu hắt về hồ xưa chốn cũ

Hương xa rồi buồn tiếc chi ngày qua

Nước gương hồ lặng im cánh buồm mơ

Bước xưa về lặng nghe sóng bên bờ

Hoàng hôn xuống lạnh lùng hồ soi bóng

Cố nhân về lối cũ mong tìm thu

Mùa hết hương rồi lắng nghe u hoài

Hồ thu năm nay nhuốm màu tình năm cũ

Hoa lá phai tàn úa theo mây vàng

Rộn ràng nghe tiếng thu về tê tái

Gió thu về dường như nhắc mùa xưa

Lá thu vàng nhẹ rơi khắp gương hồ

Trời mây nước này ngàn năm thương nhớ

Hương thu về bối rối trên đường tơ.

Hoàng Ngọc Biên

     Bạn bè thân không ai biết Hoàng Ngọc Biên có soạn nhạc. Bản “Hồ Thu” ít được phổ biến, và mới đây được ca sĩ trẻ Ngọc Mai hát. Ngọc Mai cũng sinh tại Quảng Trị, tốt nghiệp Nhạc viện TP HCM 2010, từng đoạt nhiều giải thưởng; hiện là giảng viên thanh nhạc của Nhạc viện TP HCM.

                                                                                                         

NGÔ THẾ VINH
[Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật
& Văn Hoá, Việt Ecology Press 2017]

Cuku

 

Bài 26

HOÀNG NGỌC TRƯỜNG- (Đ 17)

TRỞ VỀ VỚI ÂM NHẠC ĐỂ DIỂN TẢ NỖI ĐAU BUỒN MẤT MÁT CỦA CON NGƯỜI

     Hoàng Ngọc Trường sinh năm 1960 tại Sài gòn là con trai ông bà Hoàng Ngọc Viên. Ông lớn lên trong một gia đình tràn ngập không khí sinh hoạt văn học nghệ thuật: Với văn chương có Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Thu Hồng-Hội họa:Hoàng Ngọc Biên-Âm nhạc: violinist Hoàng Ngọc Hỷ (1955-2008);guitarist HoàngNgọc Anh (1977-2002). Người nhạc sĩ vĩ cầm là anh ruột và người nhạc sĩ Tây ban cầm là cháu ruột của Hoàng Ngọc Trường. Cũng cần nói thêm: thi, văn, họa sĩ kiêm dịch giả Hoàng Ngọc Biên cũng là người sáng tác nhạc. Cách đây không lâu tôi đã có dịp nghe một ca khúc rất tao diễm theo nhịp valse chậm có nhan đề là Hồ thu do Hoàng Ngọc Biên sáng táccách đây hơn nửa thế kỷ. lúc anh mới 17 tuổi. Gần đây nhạc sĩ Hoàng Ngọc Trường đã phóng tác một bản Hồ thu khác-nhạc không lời, dựa trên ca khúc của Hoàng Ngọc Biên.

Sau khi theo học piano tại trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài gòn được 4 năm (của hệ 7 năm) thì xảy ra sự kiện 30-4-1975. Hoàng Ngọc Trường ngưng tập đàn rồi anh dành thì giờ cho Toán học . Mấy năm sau đó anh chuyển sang định cư ở Mỹ, tốt nghiệp Bachelor of Science in Electrical Engineering tại University of Utah năm 1985. Sau đó anh dời xuống Santa Barbara để làm việc trong ngành điện. Ở đó ngoài giờ đi làm, anh tham gia trình diễn trong những ban nhạc alternative rock/ art rock đồng thời anh theo học nhạc jazz tại Dick Grove School of Music (Hollywood). Năm 1990 anh dời lên San Francisco để tìm cho mình một môi trường sinh hoạt âm nhạc tốt hơn. Ban ngày anh làm việc cho hãng Sun Microsystems. Ban đêm anh chơi với nhóm nhạc gothic-rock. Rồi anh bắt đầu yêu thích ambient/art-rock và nhạc phim và quyết định trở thành người sáng tác và sản xuất âm nhạc. Năm 1991 anh theo học sáng tác tại San Francisco Conservatory và tốt nghiệp năm 1996. Từ đó những sự bận bịu của đời sống gia đình và công việc khiến anh tưởng như đành phải rời bỏ giấc mơ âm nhạc của mình. Nhưng sau khi thân phụ của anh từ trần rồi tiếp đến là hai cái tang của hai người nhạc sĩ trong gia đình. anh quyết định trở lại với âm nhạc như một cách để diễn tả nỗi đau buồn mất mát của mình. Dự định của anh trong tương lai gần là viết một loạt nhạc mới theo phong cách art-rock/ minimalist influence/ computer music và thành lập một ban tứ tấu cho piano và đàn dây. Và trong năm 2012 anh có dự định thực hiện một buổi trình diễn dài 1 giờ kết hợp với một cuộc triển lãm các tác phẩm digital art của Hoàng Ngọc Biên.

Cách đây mấy hôm, Hoàng Ngọc Trường gửi cho tôi nghe 4 bản nhạc của anh:Dusk (1994) -Grief (2009) – Sadness (2009) viết chung với Joowan và Ruychi – Waltz (2011). Trong đó hai bản Dusk và Grief đã từng được trình diễn ở San Francisco

Cả 4 bản nhạc đều rất tinh tế về chuyển động hòa âm và cấu trúc đa điệu. Hoàng Ngọc Trường không chuộng nghịch âm và những sự cầu kỳ phức tạp mang tính hình thức trong giai điệu và tiết tấu. Anh không cố gắng viết nhạc “khó”, không chuộng nét “virtuosic”, không đòi hỏi tài diễn tấucủa những diệu thủ. Nhạc của Hoàng Ngọc Trường cần sự im lặng và cảm nhận sâu sắc nơi người trình tấu và người lắng nghe, vì mỗi bản nhạc của anh thanh tao và trầm lắng như một bài thơ mà ngôn từ là những âm thanh đẹp đẽ, chân thật và đầy cảm xúc.

Sydney. 05 tháng 1. 2012

HOÀNG NGỌC-TUÂN

Bài 27

NƯỚC MẮT CHẢY XUỐNG

                                                                                                               HOÀNG NGỌC NGUYÊN -( Đ 17)

  • Hoàng Ngọc Nguyên là em ruột Hoàng Ngọc Biên.Sau năm 1975,ông thuộc nhóm chuyên viên kinh tế do Ts Nguyễn Xuân Ánh đứng đầu làm cố vấn cho Thủ tướng Võ Văn Kiệt tại TPHCM.
         Năm nay là sinh nhật đầu tiên trong gần 70 năm, con không có mạ. Cũng có những lần ngày 23-3 đến, mạ đang ở nơi này nơi khác, nhưng con vẫn nghĩ có mạ một bên. Chỉ mới năm ngoái, mạ 95 tuổi, thực sự chẳng bao giờ muốn đi đâu ra khỏi nhà, nhưng vẫn còn chiều con mà đẩy chiếc ghế lăn ra tận nhà hàng Nha Trang ở San Jose vào một buổi chiều trời tối sớm. Như mạ vẫn thường chiều ý mấy đứa khác. Mạ thì bao giờ cũng muốn làm vừa lòng tất cả mấy đứa, cho dù mấy đứa có khi không làm vừa lòng mạ mà mạ chẳng bao giờ nói ra. Con vẫn giữ tấm thiệp sinh nhật mạ cho con năm 2013. Mạ 92 tuổi, chữ ký còn mạnh mẽ, chẳng có nét nào run rẩy. Mạ luôn nhớ sinh nhật của con, nhớ cả ngày ta ngày tây, càng già càng nhớ bất kể Alzheimer. Chẳng có đứa nào mà mạ quên. Con thì không phải bao giờ cũng thế. Năm nay, mạ hẳn còn nhớ, nhưng trong ngày sinh nhật của con, mạ lại nằm đó, đôi mắt nhắm nghiền thanh thản, nét mặt vẫn hiền lành, phúc hậu và tinh anh như trong mọi giấc ngủ trước đây, chỉ có điều mạ sẽ chẳng mở mắt, mạ sẽ chẳng bao giờ tỉnh dậy nữa.Bởi thế, hôm nay tụi con mới có dịp tề tựu gần đông đủ chung quanh mạ. Trong ngày buồn thảm này, nước mắt mỗi đứa tuôn trào, nhưng những nụ cười rộn rã trên môi như chia sẻ với mạ một niềm vui, vì tụi con biết ba mạ bao giờ cũng thế, rất vui trước dịp khá hiếm hoi gặp đầy đủ con cái, cháu chắt, cho dù thông thường chỉ ngồi cười im lặng lắc đầu trước những câu chuyện ồn ào của những đứa con tuy không nhiều chuyện nhưng có thể bị hiểu lầm. Mạ có đến mười đứa, khi nào gặp nhau là như vỡ chợ, có đứa ham nói, đứa thích cười, đứa mê hát, đứa háu ăn, đứa lăng xăng… Làm sao kiểm soát hết nổi!Con nhớ lại một thời xa xưa chắc chẳng bao giờ có thể trở lại được nữa, cha mẹ ít khi phải mong ngóng con cái. Đất nước của mình nhỏ, thành phố Saigon coi vậy mà cũng nhỏ, xã hội nhỏ, con người cũng nhỏ và bấp bênh, cho nên thường quên mình mà tìm đến với nhau thường xuyên. Những dịp lễ tết, cúng giỗ trong nhà và cả những ngày thứ bảy, những ngày chủ nhật, có biết bao cơ hội họp mặt gia đình trong năm. Bởi thế, nghĩ lại, trong những mất mát từ nghiệp chướng tha hương này, mất mát nào là lớn nhất cho những cha mẹ già?Ở bên này, anh chị em tứ tán, lao mình vào cuộc sống lạc lỏng để mưu cầu tồn tại, rồi lại sớm “giác ngộ” chủ nghĩa tự do cá nhân truyền thống của văn hóa Mỹ, xem cái tôi quá lớn. Cha mẹ nào lại dám hay lại nỡ mong đợi có những đại hội gia đình thường xuyên trong tuổi già như ngày xưa. Cái tâm sự câm nín ấy nơi cha mẹ già, rất nhiều người chỉ thao thức với nó trong giấc ngủ về đêm hay những lúc ngồi một mình trong ngày. Nhưng người con chỉ cần một chút mẫn cảm, điều đó chẳng phải là khó thấy. Mạ còn chín đứa, và trong biết bao nhiêu điều có thể khác ý giữa mấy đứa, có một điều chúng đã cùng nhau làm được: quyết giữ mạ “tại gia”, tránh xa nơi dưỡng lão, bởi thế mà mạ vẫn thấy ấm áp phần nào cho đến khi ra đi. Như bao nhiêu người khác, mạ chẳng ưa gì nursing homes!Mạ là người thích đọc sách, đọc báo. Trên 90, mạ vẫn muốn đọc, tìm đọc – cho dù trí nhớ ít nhiều đã bị ảnh hưởng. Như mạ vẫn muốn hát, thích hát, thích nghe nhạc, đến mức biểu anh Sim chép lại cho mẹ bài “Về đây nghe em” của Trần Quang Lộc có lẽ chỉ để nhẫm một mình. Ở đầu giường của mạ, bao giờ cũng có băng nhạc, phim bộ Đại Hàn, có sách, có báo, và cả cuốn tập ghi lại những ý nghĩ nhanh, thoáng qua đầu mẹ (như những lời trăn trở trước tuổi già, suy nghĩ về Phật sự…), hay cả tập viết của mạ ghi lại những câu ca dao tục ngữ mà bà ngoại người Hà Nội vẫn ưa nói cho mạ là con gái người Quảng Trị này (con tìm thấy ở đầu giường của mẹ cuốn sách “Tục Ngữ Ca Dao Dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan, con dâu út mua chưa đọc mà đã viết tặng “cuốn này hay lắm, mạ giữ mà đọc đỡ buồn!”). Bởi vậy, như con hay nói giỡn với mạ, “Con vẫn có cách có hiếu của con, là viết cho mạ đọc”. Và mạ giỡn lại: “Như vậy thì đừng đòi người ta nhuận bút”.Thế nhưng khi phải viết thay cho tất cả mười anh chị em (kể cả đứa em trai tài hoa bạc mệnh qua đời hơn bảy năm qua bên Pháp nhưng đối với mạ vẫn còn đó) về người mẹ của mình, đó đúng là thử thách quá sức trong cuộc đời cầm bút cả nửa thế kỷ của con mà mạ đã mở đường trong nhiều cách. Một mặt, đúng là mười người chẳng phải duy nhất mỗi ngưòi một ý, mà có khi có đến cả hai ba chục ý. Mặt khác, anh chị em đứa nào cũng thấy mạ tuyệt vời quá, phi thường quá, vĩ đại quá, cho dù đứa nào cũng chưa thể hiểu hết và thấy được chỉ một phần đời của mạ. Trong khi đó, mạ luôn luôn nói “Tội chết”, vì mạ nhìn thấy được sự vô ngã của con người, nhìn thấy ở cuộc đời hào nhoáng này chỉ là sự vô thường thay vì phi thường, nhỏ bé thay vì vĩ đại, sự chìm đắm vào bể khổ, nguồn mê, “con lạc lỏng không nhìn phương hướng” thay vì thoát nghiệp tuyệt vời, và tất cả những vọng tưởng vĩ đại, tuyệt vời, phi thường chỉ là những cạm bẩy của tham sân si mạn, của nghiệp chướng.Nói lên ở mẹ những điều ắt có thì dễ vì tất cả đều trong tầm mắt, nhưng nói cho đủ thì thật rất khó vì làm sao nhìn thấu hết chiểu sâu của một người nhiều trăn trở như mẹ. Hy sinh cho chồng con, khổ vì chồng con đến mức có khi phải cạo đầu, ăn chay, niệm Phật, trong cả gần 80 năm đến mức quên cả mình cũng còn có cuộc sống riêng – đó là điều ắt có. Hiếu đạo với cha mẹ không kể đến bên mình hay bên chồng đến mức cứ day dứt sợ mình thiếu sót bổn phận hay cảm nhận chưa đủ tâm tình của cha của mẹ. Bao giờ cũng thấy khắng khít, gần gũi, thương yêu, đùm bọc với anh chị em trong mọi hoàn cảnh – từ khi còn sống chung đùa giỡn, hát hò hàng ngày dưới chung một mái nhà cho đến khi theo chồng lang bạt khắp nơi trên đất nưóc tao loạn. Đối với hàng xóm láng giềng từ căn nhà đơn sơ ở đường Nguyễn Hoàng Quảng Trị, căn nhà nhìn ra chợ Xép ở Huế, đến căn nhà trong “Xóm Đêm” ở đường Nguyễn Tấn Nghiệm hay căn nhà khang trang rất “tiểu tư sản thành thị’ trên đường Đặng Tất Tân Định hay Cư xá Nông tín hay Trương Minh Giảng Saigon, hay đối với các anh chị em đồng nghiệp ở nhà thương Quảng Trị hay Viện Bào chế Neofarma ở cầu Công Lý, mẹ có một cách cư xử chân tình gia đình, gần gũi, chia sẻ, chan chứa tình người đến mức gần 40 năm sau khi mẹ rời khỏi môi trường sinh hoạt đó, những người bạn cũ, nay đã trên 70, trên 80 vẫn còn nhớ đến “bác Viên, bác Yến” đề tìm thăm. Trong những ngày khó khăn vào những năm 50 và 60, mẹ phải nhọc nhằn chơi hụi để “lấy công làm lời”, những người bạn hụi đó vẫn giữ một lòng thương mến đặc biệt đốí với mẹ, vì mẹ dịu dàng quá, nhỏ nhẹ quá, kham khổ quá, như một người chuyên đi thu tiền hụi là đứa con thứ năm có thể nhớ lại được. Tất cả đều là những điều ắt có nơi mẹ.Nhưng con đã tránh được thiếu sót lớn nhất trong hồi ức về mạ khi không quên nói đến cuộc sống của một người mẹ chẳng biết từ bao giờ đã qui y Tam Bảo, từ con tim, trong tâm hồn, nơi niềm tin, trong cuộc sống – thể hiện một phần trong đọc kinh mỗi ngày sáng tối, ăn chay ít nhất bốn ngày một tháng, hàng tuần cố gắng tìm cách đi chùa, bố thí, cúng dường. Mạ là người nổi tiếng trong con cái ở sự tằn tiện hết sức trong mọi chi tiêu vì hiểu được thời thế bao giờ cũng khó khăn, ngày càng thêm khó khăn, gánh nặng của gia đình đã nặng, ngày càng thêm nặng vì chi phí đầu tư cho tương lai của từng đứa, từ học hành trong nước đến ngoài nước, cho con du học ba đứa rồi cho con đi vượt biên cũng hai đứa. Mạ tuy chẳng học MBA, nhưng ý thức về giá phí, kiểm soát gia phí, hiệu quả giá phí, còn chặt chẽ hơn cả những người kế toán trưởng.Chủ nhật vừa qua, sau buổi lễ ở Chùa Tam Bảo Salt Lake City, ông Phan Hòa hội trưởng của chùa đã có lời phát biểu trong đại sảnh, nói lên những lời chia buồn chân thành trước sự tìm về cõi Phật của một Phật tử đã sống hết lòng vì đạo pháp. Mạ không bao giờ thấy vừa trong việc tạo phước đức cho con cháu,  trong sự tôn kính hết lòng với Phật, Pháp, Tăng, bao giờ cũng thu nhỏ mình lại trước các thầy, các  cô ở chùa, và con thấy từ các thầy ở chùa Hải Quang Tân Bình đến các sư cô chùa Tam Bảo Salt Lake City, chẳng có thầy cô nào không quí mến mạ. Chắc chắn rằng vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống, mạ đã “ngộ” mà “quay về bờ giác”, sau khi nhận chân  được “đời là bể khổ” vì “nghiệp chướng triền miên” giải mãi không hết, đan kết từ đời nay qua đời khác. Con cứ nghĩ mãi: mình chỉ có thể hiểu được “tuệ giác” của mạ nếu hiểu được những đoạn đường đời mạ đã trải qua.Mỗi đứa con chỉ biết mạ sống qua một thời của mình, chưa đứa nào tổng hợp được cái  hiểu của từng đứa để biết cả cuộc đời của mạ. Có thể như một pho sách. Mà chưa chắc tổng hợp được đã đầy đủ, lấp đầy các khoản trống. Thực ra, là con thì đứa nào cũng muốn có hiếu, nhưng bao nhiêu đứa có hiếu được biết phần nào cha của mình, mẹ của mình trước đây đã sống thực như thế nào trong thuở thiếu thời, và sau này đã lập gia đình, thành vợ thành chồng, cuộc đời đã đi đến những khúc rẽ nào, trôi giạt đến những phương trời nào, làm thế nào mà sống, đã hy sinh đến mức nào cho chính mình. Làm sao cha mẹ đã vượt qua được những thử thách loạn lạc của lịch sử một thời? Vấn đề là con người chúng ta ngày càng mơ hồ về lịch sử, về xã hội trong những thời trước đây, nhất là những chuyện trước năm 1975, hay trước Hiệp định Genève 1954 thời của cuộc kháng chiến chống Pháp, hay trước năm 1945 là những năm Đệ nhị Thế chiến. Không hiểu biết lịch sử, có thể nào hiểu hết cha mẹ?Có lẽ chỉ có người anh cả sống cả đời chăm lo cho cha mẹ mới đủ sức cảm nhận phần nào mạ đã sống qua bao thời kỳ không chỉ của tất cả các đứa mà còn bao thời kỳ gần trăm năm của đất nước với đầy đủ ý nghĩa của chữ “sống”. Chín mươi lăm năm quả là một thời gian dài vô kể. Dĩ nhiên cũng có những người sống đến 90, thậm chí trăm tuổi. Nhưng có phải ai sống mà cũng sống đâu – vì đứng ngoài, vì ăn sung mặc sướng, vì không quan sát, không suy nghĩ, không lo lắng, vì ỷ lại hay lệ thuộc chồng…

    Chín mươi lăm năm của mẹ, từ 1920 đến 2015, là một thời gian dài vô kể vì những biến chuyển không ngừng của lịch sử đất nước khiến cho con người bị bầm dập từng cơn chẳng biết đến chừng nào. Mẹ chịu đựng những thử thách cùng cực trong từng thời kỳ đó, và đã qua được cả! Mẹ sinh ra vào lúc cuộc đấu tranh chống Pháp đang rơi vào tình cảnh bế tắc (bạo động như chủ trương của Phan Bội Châu không xong mà cải cách dân trí theo hướng Phan Chu Trinh cũng chẳng làm cho “Pháp Việt đề huề” hơn) thể hiện nơi sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới trong xã hội đề tìm được hướng đi cho một nền văn hóa mới. Cuộc đấu tranh đó đã phần nào có thể phản ảnh nơi cuộc sống của mẹ hơn cuộc sống của các dì hay của các cô. Những tác phẩm “Đôi bạn”, “Đoạn tuyệt”, “Thoát ly” hay “Hồn bướm mơ tiên” vẫn theo mẹ khi ra riêng. Nghe mấy dì nói lại, từ nhỏ mẹ tôi đã thích đọc và đặc biệt thích “viết báo” – những mẩu nho nhỏ chuyện ngắn. Và rất thích hát hay hò Huế.  Tôi đã lớn lên từ những lời ru của mẹ: Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều! hay Ra đi ngó trước ngó sau, Ngó nhà mấy cột, ngó cau mấy buồng!

    Là một phụ nữ nhưng mạ lại nhậy cảm trước thời thế, đúng là trăn trở trong vận nước nổi trôi, cho đến gần đây mạ vẫn còn nhớ rõ mồn một cuộc sống thời đó. Thật ra, khi chưa bị tác động muộn màng của tuổi già đến trí nhớ, mạ là người lạ lùng vô cùng, và điều này trong bà con đều phải đồng ý: mạ chẳng quên gì cả! Mạ nhớ ngày sinh tháng đẻ âm lịch cũng như dương lịch của từng đứa con đã đành, mà còn của nhiều người thân trong gia đình. Mạ còn nhớ ngày mất, ngày giỗ kỵ của nhiều người trong bà con. Nhớ số điện thoại và địa chỉ của các đứa… Mạ nhớ  chuyện của nhiều người, nhiều gia đình trong thân bằng quyến thuộc – chi có điều không lấy thế để nhiều chuyện mà chỉ để hiểu sự oan nghiệt của cuộc đời chẳng chừa ai (“Đừng có ai nói tướng nói thánh”).

    Mới 15 tuổi mẹ đã đi lấy chồng, và thân cư di theo chồng trôi giạt trong đời sống công chức từ Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng… Mẹ còn nhớ được thời Nhật chiếm đóng (mấy năm đầu trong những năm 40), nạn đói năm Ất Dậu (1945), Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền (“Cách mạng Mùa Thu”), Tây trở lại và  cụ Hồ Chí Minh ra lệnh Toàn quốc Kháng chiến vào tháng 12 năm 1946 – là ngày ba ra đi. Năm đó, mẹ mới 26, phải một mình nuôi năm đứa trong khi ba đi theo Kháng chiến chống Pháp. Mẹ có viết trong tập ghi chép ca dao của mẹ: “Con cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non. Nàng về nuôi cái cùng con, để anh đi trẩy, nước non Ba Lòng. Đó là tình cảnh của mẹ. Con vẫn tưởng như thấy được hình ảnh mẹ bước thấp bước cao trên đôi guốc mòn tất tả trên con đường làng từ thành phố xuống thôn Lai Phước với quang gánh nặng nề chĩu chịt trên đôi vai gầy nhỏ bé đưa hàng xuống tận quê bán, vừa sợ bom đạn vừa sợ tây bố. Ôi mẹ của con, người con gái có học của một bác sĩ hình như là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị hay là giám đốc Nhà thương tỉnh!

    Đầu năm 1953, ba mới trở về. Ông Ngô Đình Diệm về nước lật đổ Bảo Đại năm 1954. Cũng trong năm đó, đất nước chia cắt ở ngay vĩ tuyến 17 tỉnh Quảng Trị. Rồi ông Diệm bị đảo chánh năm 1963 sau khi Phật giáo xuống đường, sau đó là biến cố Mậu Thân năm 1968. Chế độ Saigon sụp đổ vào năm 1975 … Biết bao nhiêu cuộc đổi đời mẹ đã trải qua trong 95 năm! Cuộc đổi đời đầy cả “Tình sầu biên giới” vào cuối năm 1946… Năm đó, mạ mới 26, phải một mình nuôi năm đứa trong khi ba đi theo Kháng chiến chống Pháp.

    Mạ ơi! Nếu phải kể lại những kỷ niệm đáng nhớ cho mạ mỉm cười thì con không thể kể hết, bởi vì ngay từ hổi nhỏ con đã biết con chỉ có mạ! Trong thời gian chờ đợi ba trở về, mạ tìm khuây khỏa trong trông ngóng bằng đưa con đi chùa, đưa ra bờ sông Quảng Trị lội nước, và ban đêm mạ ngồi ôm đàn mandoline hát một mình những bài hát mà nhờ thế con tuy còn quá nhỏ, 5-6 tuổi, đã lạ lùng thay được hưởng một vốn liếng nhạc tiền chiến vô cùng phong phú khó tưởng. Bao giờ con cũng có thể kể hàng loạt bài hát mạ vẫn hát con vẫn nghe, vẫn nhớ từ những năm 52-53, bởi vì bài nào cũng chuyên chở chỉ một tâm sự của mẹ: một phụ nữ ôm con chờ chồng trong thời loạn. Chinh phụ ca, Thiếu phụ Nam Xương, Bến cũ, Người về, Con thuyển không bến, Mùa đông binh sĩ, Trăng mờ bên suối, Lời hẹn xưa, Đợi anh về, Giọt mưa thu, Đêm tàn Bến Ngự, Sầu lữ thứ, Trầu cau, Hòn vọng phu, Bến xuân, Trách người đi, Buồn tàn thu, Tình quê hương, Nhớ người thương binh, Bóng chiều xưa, Biệt ly, Tình sầu biên giới, Sầu Ô Thước, Suối mơ, Tiêng đàn tôi

    Một vài bài lãng mạn xen vào những bài ca thương nhớ, như bài “Chinh phụ ca”: “Từ chàng ra đi, lưng khoác chiến y, Và hồn nương bóng quốc kỳ. Nàng ngừng con thoi, có khi nhớ chàng, Có muốn gì đâu, lệ thắm tơ vàng…”. Nhắc lại những bài hát trong thời đó, con tưởng như còn nghe được giọng thổn thức, trầm buồn của mẹ khi hát bài “Mùa đông binh sĩ”. Mùa đông giá lạnh lùng, gió lạnh lùng. Chim thôi bay nhìn mưa gió hãi hùng. Ngoài xa, ngoài biên cương bao chiến binh ôm súng buồn nhớ quê hương”. Bài hát chất chứa một nỗi buồn sâu lắng, nghẹn ngào, chân thật nhưng cũng tràn đầy niềm tự hào mà con tuy còn nhỏ hồi đó dường như vẫn đủ sức cảm nhận được và sau này lớn lên lại càng có cảm tưởng như một sự núc nở còn đọng lại từ một thời quá khứ đẹp đẽ.

    Mạ, mạ có tưởng tượng được sau cả nửa thế kỷ, những bài mạ hát vẫn lắng rất sâu trong tâm hồn con, trong trí nhớ của con, không bài nào thoát ra được, đến độ chẳng những con không quên tựa, chẳng quên lời, mà còn hát được không thiếu một bài (mạ đừng nói con “nói trạng” nghe)  giống như mạ cách đây 25 năm vẫn còn hát trong một dịp họp mặt gia đình: “Bến ấy ngày xưa người đi vấn vương biệt ly. Gió cuốn muôn phương về đây. Thấy bóng người về hay chăng? Xa nhau bến xưa ngày ấy. Anh đi thế thôi từ đây Sầu chết bên lòng. Hồn nặng nhớ mong”. Con vẫn muốn cất cao giọng đã hết hơi hát cho mạ nghe, nhưng làm sao được giờ đây.

    Ba về với mẹ năm 1953 – một năm trước khi Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ. Nếu ba còn ở lại, không chừng năm 1954 có khi cả nhà phài dọn ra miền bắc “có mắm ăn mắm, có muối ăn muối”! Để đánh dấu thêm một cuộc đổi đời, ba mạ tôi lại có thêm năm đứa đợt hai gấp rút chỉ trong vòng bảy năm, nhưng điều kiện sản xuất thì “công nghiệp hóa” hơn. Từ năm 1953, cả gia đình dọn vào Saigon, nhờ ông ngoại được bổ nhiệm vào chức bộ trưởng Bộ Cựu chiến binh dười thời Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm.    đợi phơi .  Saigon thể hiện đầy đủ cơ hội và những hứa hẹn đó. Lúc ban đầu, gia đình tôi cũng phải dọn từ nơi này tới nơi khác, nhưng cứ đi lên dần: từ Bộ Cựu chiến binh đến nhà mặt tiền ở Nancy (522 đường Galiéni), rồi đến 236/24 Nguyễn Tấn Nghiệm (cái nhà vào mùa mưa bao giờ anh chị em cũng xúm lại tát nước ra khỏi nhà, mùa nắng thì đi gánh nước về nhà), nhưng nhanh chóng “đổi đời” với biệt thự chính phủ 24 Yersin Nha Thuế Vụ Dalat khi ba làm giám đốc nha này và trở lại Saigon với 17 Đặng Tất Tân Định, sau này bán lại cho Luật sư Vương Văn Bắc. Trong bưóc thăng tiến mở ra chân trời mới này, công lao của ba má đều phi thường, ba thì việc gì cũng lãnh về làm thêm (kế toán, phiên dịch), mẹ tôi thì cố gắng làm ăn trong vốn liếng dành giụm khiêm tốn cùng mở rộng cửa nhà cho bà con ở ngoài Huế hay Quảng Trị vào tá túc.

    Năm 1960, chiến tranh bắt đầu trở lại.Tình hình chính trị bao giờ cũng bất ổn, ngay cả những năm dưới thời ông Ngô Đình Diệm. Cùng sự hiện diện tràn ngập của người Mỹ khắp nơi. Những năm 64, 65, đêm đã có thể nằm nghe tiếng đại bác. Sáng có thể biết nơi nào chẳng may bị pháo kích chiếu cố. Người Saigon ngay từ thời đó đã biết nạn khủng bố đánh bom ở thành thị. Nhưng đó là những năm ba mạ  dồn sức đầu tư vào cho từng đứa. Đứa đi Anh năm 1962. Đứa đi Thụy Sĩ năm 1971. Đứa đi Pháp năm 1973. Thời nay, người ta cho con nườm nượp đi học nước ngoài. Thời trước, cho được một đứa con đi học là biết bao hy sinh, tốn kém, chắt chiu của cha mẹ. Mẹ phải cho thuê nhà, chơi hụi hè, và lại đi làm. Thế nhưng trong thời chiến tranh giặc giã như thế, gia đình vẫn vui sống, vẫn tưởng có thể hướng được về tương lai.

    Và cuộc đổi đời cuối cùng của mẹ là khi mẹ đã được 70, năm 1990, con cái bảo lãnh qua bên này. Đi đây đi đó, từ Mỹ qua Pháp và đi lên Đan Mạch. Nhưng trong lòng mẹ, lòng cha vẫn nặng một lòng với quê hương, đất nước, với xóm làng bà con còn bên đó. Và càng già, càng không làm gì được, càng thương con thương cháu, càng cảm thấy cuộc sống tha hương không hẳn là của mình, và cứ sống mãi trong ám ảnh những nghiệp chướng bủa vây không thoát được trong đời của những lớp sau.

    Ngày hôm nay, nhớ mạ mà tụi con có dịp nhìn kỹ lại mỗi một đứa, và khám phá ra tính tốt mà mấy đứa có thể có đều được thừa hưởng từ mạ. May mà mạ có nhiều tính tốt đề chia đều cho các con, tụi con không phải tranh giành, sanh nạnh. Nhưng ngược lại, nhìn lại tính xấu của từng đứa, tham sân si mạn đủ cả, lạ thay, chẳng có thói hư tật xấu nào mạ có cả. Đúng là nếu không có những tính tốt của mạ kéo lại tụi con, thì tụi con sẽ như thế nào? Độc ác, dữ tợn. Ngu dốt. Tham lam. Ti tiện. Ích kỷ.

    Trong niềm tự hào với ân sủng của mẹ ban cho, con mang nặng một nỗi ray rứt. Tại sao mẹ lại ra đi lặng lẽ, âm thầm như thế, không một lời trăn trối. Phải chăng đến tuổi đó, quá khứ chẳng những chưa nhẹ nhàng đối với mẹ, mà còn làm cho hiện tại thêm trĩu nặng đối với một người nhậy cảm, mẫn cảm như mẹ. Cho nên mẹ lúc gần đây dường như chỉ nhìn về phía trước, phần thì áy náy thâm tâm vì sợ phiền con cái, phần thì muốn trở lại với ba cho bỏ mười năm cô đơn, nhung nhớ, tìm đến với những người đi trước sau khi đã quá đủ với những lớp sau.

    Mẹ đột ngột ra đi để lại bao nhiêu câu hỏi về sự vô thường của đời này. Đông con khi nào thì vui nhà vui cửa, và khi nào là một sự chĩu nặng trong kiếp người? Phải chăng thời gian lúc này trôi qua nhanh quá như để cho thấy tính tạm bợ của cuộc đời, trong khi con người không ngờ được hay vô tình hay quá vô ý thức cho nên chỉ hối tiếc khi đã trễ. Cuộc đời quá ngắn ngủi đến không đủ, hay quá dài đến dư thừa? Phải chăng cuộc đời này cái gì cũng là tạm bợ, không có ý nghĩa, hoặc chính sự tạm bợ này là một thử thách cho con người đi tìm đường đến với kiếp sau? Như vậy, cuộc sống bao nhiêu là vừa, là trả xong nợ? Ngót trăm năm là cái nghiệp đè nặng, hay là phước, là thọ? Kéo dài sự sống hay kéo dài cái chết, phải chăng sự lựa chọn là rõ ràng?

    Theo những nhà triết học tôn giáo, đạo Phật là một tôn giáo “vô thần”  trong nghĩa đạo không xưng tụng một đấng Thượng Đế (Oh, my God!) toàn năng, như một đấng tạo hóa an bài mọi việc. Phật giáo đặt niềm tin nơi con người đi tìm sự giác ngộ chánh pháp, tu hành để đạt chánh quả. Được như thế, ai cũng có thể trở thành Phật, cõi Niết Bàn chẳng xa xôi như Thiên Đàng. Phật tại tâm. Nơi nào có Phật nơi đó là Niết Bàn.  Nói thì dễ, nên ai cũng nói “Tôi muốn thành Phật”. Nhưng ít ai chịu bỏ chữ “tôi”,  chữ “muốn”, đề chỉ còn hai chữ “thành Phật”. Mạ không hề nói “Tôi muốn thành Phật” (Tội chết), nhưng đã từ lâu quên đi cái “ngã”, và cũng không có ham muốn gì trên đời. Con rất muốn tin vào những điều căn bản đó, vì chẳng có niềm tin làm sao ngưòi ta có thể sống thực trong đời này. Nhưng có niềm tin trong đời này không phải là dễ. Hiện nay, chỉ có mạ đang ở bên kia là người có thể làm cho con tin được.

    Lại nghĩ đến mạ. Và nghĩ đến qui luật của muôn đời “Nước mắt chảy xuống” để cảm thấy sự mất mát không tìm lại được. Làm sao cho con người thoát được cái nghiệp chướng muôn đời này!

    HNN